Lê Đình Cánh, nhà thơ hồn hậu và thánh thiện đã đi xa

18:55 2019/3/5 - Nguồn : Ngô Đức Hành

Nhà thơ Lê Đình Cánh (phải) và tác giả.
 
Nhà thơ Lê Đình Cánh sinh ngày 21/9/1941, quê ở Thọ Xuân, Thanh Hoá. Ông tốt nghiệp Khoa Vật lý, Trường Đại học Sư phạm 1 Hà Nội, sau đó học thêm Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Lê Đình Cánh từng là giáo viên dạy văn hóa của lực lượng Thanh niên xung phong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông có nhiều năm công tác ở Ban Văn nghệ Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam trước khi nghỉ hưu.
Lê Đình Cánh là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội.
 
Những ngày bị bệnh trọng, bạn bè, anh em, gia đình, đồng nghiệp đến thăm, ông vẫn lạc quan và luôn nghĩ tới đồng nghiệp, bạn bè. Ông nhớ tới từng chi tiết, từng gương mặt, từng tính cách... Điều đặc biệt của nhà thơ Lê Đình Cánh là lúc nào cũng nghĩ đến công việc. Trước Tết Kỷ Hợi, sang thăm ông, ông vẫn nói với tôi: “Em xem có đơn vị nào gần gần anh em mình đi viết bút ký”. Nhìn ông gầy, da xanh tôi rất ái ngại nhưng vẫn động viên ông: “Em sẽ cố gắng liên hệ”.
 
Lê Đình Cánh là nhà thơ viết bút ký xuất sắc. Bút ký của ông đầy “chất thơ”. Tôi vẫn mê Vũ Bằng với “Thương nhớ mười hai”, Phạm Ngọc Cảnh với “Cát trinh nguyên” và Lê Đình Cánh. Trong tác phẩm văn xuôi Lê Đình Cánh, nhiều câu chuyện tưởng chừng dễ trôi đi nhưng nhờ những quan sát, sự suy ngẫm theo chiều sâu của nhà văn, những chi tiết đã mắc lại trong dòng ngẫm nghĩ vượt khỏi thông tin báo chí, thông tấn. 
 
Lê Đình Cánh có phong cách bút ký của riêng ông. Đó là sự thăng hoa của những chi tiết đời thường. Chi tiết là cái tứ cho câu chuyện và cũng là những vỉa quặng đốt cháy ngọn lửa soi sáng dòng chảy của bút ký. Ông đi nhiều, nhiều nơi tín nhiệm mời ông đi thực tế để viết. Bút ký của ông nâng lên thoát ra khỏi những hợp đồng, những "cú bắt tay" với địa phương, ngành nghề, doanh nghiệp để trở thành câu chuyện chung, khái quát từ những chuyện riêng, chi tiết lẻ.
 
Tập bút ký “Miền chầu văn” xuất bản năm 2015 của ông có nhiều bài viết về những đổi thay của đất nước như: “Nẻo đường quê hương”, “Cầu Vĩnh Tuy”, “Cầu Nhật Tân”, “Mưa xuân”, “Dòng sông không bị lãng quên”...Ông là một trong những nhà thơ viết văn luôn nói về quá khứ với sự trân trọng và bàn đến tương lại với nhiều dự cảm. Đặc biệt, ông thánh thiện đến đáng yêu trong suy nghĩ.
 
Tất nhiên, nhắc đến Lê Đình Cánh, người ta chỉ gọi ông là nhà thơ. Thơ ông neo ngòi bút vào dòng lục bát. Đó là sở trường thơ ông, được thừa nhận có vị trí nhất định trong làng thơ. Nhiều bài xếp vào hàng độc đáo. 
 
Hơn 50 năm cầm bút với tính cách lặng lẽ, ngại phô trương, ông đã xuất bản in các tập thơ: "Đất lành" (1986), "Người đôn hậu" (1990), "Trời dịu" (2001), "Sông Cầu Chầy" (2015) và văn xuôi ngoài “Miền chầu văn” như đã nói ở trên, ông còn có "Vùng đất sẽ có tên" (NXB Thanh Hoá, 1985 "Đường xuân" (NXB Quân đội nhân dân, 2003), "Nắng Nghi Sơn" (NXB QĐND, 2013).
 
"Đường xuân" và "Miền chầu văn" là 2 trong số tập bút ký của nhà thơ Lê Đình Cánh
 
Trên cả những tác phẩm, con người xứ Thanh hồn hậu, chân tình như ông đã khiến những người gần gũi ông trân trọng, yêu tin. Những lúc sang nhà thăm ông, lúc thì ra vườn ông chọc quả khế, lúc thì gói bánh, ông cứ bảo mang về làm quà cho cháu. Ông đã ra lặng lẽ ra đi. Nhớ ông và thương cảm một nhân cách sống cả đời vì vẻ đẹp văn chương,
 
Dường như năm 2018 và 2019 là năm “nghiệt ngã” với các nhà văn, nhà thơ: Nhà thơ Mai Hồng Niên, nhà thơ – nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo tác giả của “Đồng dao cho người lớn” vừa qua “49 ngày”, nay nhà thơ Lê Đình Cánh cũng đã đi xa. Vĩnh biệt ông, con người hồn hậu và mê mải.
 
Xin giới thiệu một bài thơ của ông Lê Đình Cánh về mẹ, nhân trước thềm 8/3.
 
Lê Đình Cánh
 
MẸ RA HÀ NỘI
 
Mẹ ra Hà Nội thăm con
Vừa trên tàu xuống chân còn run run
Áo nâu còn đẫm mưa phùn
Còn hoai vị cỏ sục bùn lúa non
 
Sang đường tay níu áo con
Ngã tư hối hả xe bon ngược chiều.
Khoác vai mẹ, chiếc đãy nghèo
Năm xưa thắt lại bao điều đắng cay
 
Ðưa con trốn ngục những ngày
Vài lưng gạo hẩm thăm thầy trong lao…
Ðã từng mở giữa trời sao
Nắm cơm tiếp vận tay trao giữa đèo
 
Củ khoai bẻ nửa nắng chiều
Bờ mương thoai thoải dài theo công trường
Ðưa con đánh Mỹ lên đường
Nắm cơm mẹ gói tình thương quê nhà.
 
Bà ra bế cháu của bà
Những mong cùng ước lòng bà hôm mai
Lên thang chẳng dám bước dài
Vào khu tập thể gặp ai cũng chào
 
Lời ru bà thuộc thuở nào
Qua bom đạn vẫn ngọt ngào nắng trưa
Ðể hồn cháu có núi Nưa
Tiếng cồng Bà Triệu ngày xưa vọng về
Lam Sơn rừng núi ba bề
Lũng Nhai vọng mãi lời thề nước non
 
Trải bao sông cạn đá mòn
Còn con còn cháu nên còn cha ông
Mới xa đã nhớ ruộng đồng
Thương con mà chẳng đành lòng ở lâu
 
Run run mẹ bước lên tàu
Vị bùn vẫn thoảng áo nâu quê nhà.
 
L.Đ.C
 
Nhà thơ Lê Đình Cánh (ghi chép) trong chuyến đi thực tế ở Ngã ba Đồng Lộc
 
* Nhà thơ Lê Đình Cánh mất đi, tác giả mất đi một người anh lớn tâm giao. Để tưởng nhớ anh, xin đăng bài thơ cũ nhân câu chuyện của anh về nông thôn, nông dân và những trăn trở không dễ có câu trả lời.

Ngô Đức Hành

MAI SAU

mai sau hết lão tri điền
con trâu ngơ ngác, hái liềm rụng răng
nhà nông lạ lẫm nhìn trăng
ngó sao Bắc đẩu đêm nằm vụ nao?

mai sau sóng vỗ thuyền neo
không còn tri biển mái chèo mồ côi
mặn như hạt muối lưng người
nhạt như biển bạc vỗ đời phù du

mai sau hết bậc sĩ phu
những lời can gián ngục tù hồng hoang
nỡm à thừa thãi người gian
nỡm ơi mâm bát mà tàn sơn khê

mai sau còn lối đi về
gặp thương nhớ cũ lời thề dửng dưng
nụ cười cũng phải giắt lưng
nước mắt như thể chưa từng có mưa

thiếu Rùa ai nhận kiếm chưa
oan ra tiếng sấm vào chùa tụng kinh
mai sau về lại quê mình
cây đa bến nước dứt tình li hôn

17.7.28 

N.Đ.H