1 Cục hàng hải VIệt Nam Vinalines VINASHIN NXB

Một số giải pháp phòng chống ngập lụt, thiên tai trong công tác Quy hoạch xây dựng

- Trung Tâm

Việt Nam có diện tích tự nhiên gần 331.000km2, kéo dài từ vĩ tuyến 8.300 đến 23.22 vĩ độ bắc và từ kinh tuyến 102.10 đến 109.21 kinh độ đông, trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, vừa chịu ảnh hưởng của cả khí hậu đại dương và khí hậu lục địa nên chịu nhiều thiên tai, đặc biệt là lũ lụt. Địa hình Việt Nam phần lớn là đồi núi cao, chia cắt mạnh, dốc, nên mạng lưới sông suối dày.


 
Việt Nam có 2360 sông suối có chiều dài mỗi sông trên 10km, phân bố không đều trên các vùng. Chế độ dòng chảy của các sông phân làm 2 mùa rõ rệt, mùa lũ và mùa cạn. Tuỳ theo sông, mức chênh lệch dòng chảy mùa lũ và mùa cạn có thể từ 1,5 đến 30 lần. Do phải chuyển tải lượng nước quá lớn nên mùa lũ thường gây lũ lớn lên rất nhanh và tập trung nhanh về hạ lưu trong khi khả năng thoát nước ra biển lại kém, do đó vùng đồng bằng thường xuyên bị ngập lũ.
 
Việt Nam có 4 vùng lũ lụt điển hình sau:
 
- Đồng bằng và trung du Bắc Bộ chịu tác động chủ yếu của lũ, úng, nước biển dâng. Hệ thống đê sông, đê biển và nhiều công trình phòng lũ khác hồ chứa, công trình phân lũ, chậm lũ... đã và đang bảo vệ cho đồng bằng ngày một an toàn hơn.
 
- Lũ lụt đồng bằng sông Cửu Long hàng năm gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Lụt kéo dài từ 3- 5 tháng trên diện rộng 2/3 diện tích. Phương châm "chung sống với lũ lụt" một cách tích cực, chủ động đã và đang thực thi hàng loạt biện pháp công trình và phi công trình một cách đồng bộ để tiến tới chế ngự dần dần mặt hại, phát huy mặt lợi của lũ lụt. Tuy vậy, tình hình lũ lụt lớn, lũ kết hợp với triều cường vẫn còn là vấn đề hết sức phức tạp
 
- Miền Trung luôn đối mặt trực tiếp với lũ lụt, sau đó là bão và nước biển dâng. Tại vùng này lũ lụt lớn thường đi ngay sau mưa lớn, bão, áp thấp nhiệt đới, xảy ra liên tiếp và trên diện rộng, bao trùm một số tỉnh hoặc hầu như trên toàn miền. Lũ tập trung rất nhanh về hạ lưu vốn là vùng trũng thấp, thoát lũ kém, gây lụt nhiều. Lũ các sông miền Trung là loại lũ quét ác liệt, lên nhanh và xuống nhanh, diễn ra trong thời gian ngắn. Thuỷ triều và nước biển dâng cũng có tác động nhất định đến gia tăng tình hình ngập lụt ở vùng này
 
- Miền núi và các tỉnh vùng Tây Nguyên thường chịu tác động của lũ quét và lũ lớn trên các sông chính. Sự phát triển kinh tế- xã hội  một cách mạnh mẽ làm lũ quét xảy ra thường xuyên và phổ biến hơn, gây thiệt hại càng lớn. Lũ quét, lũ lớn trên các sông chính có thể làm ngập các vùng trũng ven sông, các thị trấn thị xã ở Tuyên Quang, Yên Bái, Hà Giang, KonTum, Hoà Bình...và nhiều thị trấn, trung tâm dân cư khác trên vùng núi và cao nguyên
 
Quá trình đô thị hoá mạnh mẽ đã gây ra lũ lụt ở các đô thị. Lũ lụt  ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Nam Định, Hải Phòng... cho ta thấy rõ nguyên nhân chủ yếu gây ngập lụt không phải là nước lũ mà do mưa lớn, cường độ lớn, tập trung trong thời gian ngắn tạo lượng nước mặt vượt quá khả năng chưa của các hồ điều hoà  và tiêu thoát của hệ thống kênh, cống ngầm tiêu thoát nước đô thị
 
Do đặc điểm của địa hình Việt Nam và tình hình thiên tai thường xảy ra trên lãnh thổ nước ta đặc biệt là lũ lụt nên trong công tác quy hoạch xây dựng đô thị và các điểm dân cư nông thôn luôn phải đề cập và xem xét kỹ vấn đề này để sao cho các khu đất dự kiến quy hoạch không được ngập úng do lũ lụt, mưa lớn và không bị ảnh hưởng của thiên tai
 
Các giải pháp phòng chống thiên tai, ngập lụt trong công tác quy hoạch, cụ thể là:
 
+ Chọn đất xây dựng hợp lý
 
+ Chọn cao độ xây dựng khống chế cho đô thị chuẩn xác
 
+ Thiết kế hệ thống tiêu thoát nước đô thị hợp lý
 
+ Các công tác khác: phòng chống sụt lở, xói mòn, động đất... bằng hình thức cảnh báo để có phương án xử lý
 
+ Kết hợp chặt chẽ với quy hoạch thuỷ lợi để đề xuất các công trình đầu mối nhằm phòng chống thiên tai thật hiệu quả và kết hợp phương án tiêu cho đô thị với tiêu thuỷ lợi
 
Đối với từng vùng bị ảnh hưởng của lũ lụt khác nhau sẽ có giải pháp khác nhau. Cụ thể:
 
1. Vùng đồng bằng Trung du Bắc Bộ
 
- Đối với những vùng có đê bảo vệ: chọn đất ở những nơi phải đầu tư vào tôn nền ít. Chọn cao độ xây dựng cao hơn mức nước úng max nội đồng. Xây dựng hệ thống thoát nước đô thị hoàn chỉnh kết hợp với tiêu thuỷ lợi của vùng
 
- Đối với những vùng có chưa đê bảo vệ tuỳ vào cấp đô thị để chọn cao độ xây dựng khống chế ứng với tần suất P theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam hoặc chọn giải pháp xây dựng hệ thống đê bao khu vực dự kiến phát triển. Xây dựng hệ thống thoát nước đô thị hoàn chỉnh gắn kết với hệ thống tiêu thoát thủy lợi của vùng
 
- Phát triển mạnh mẽ trồng rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn để giảm lũ, điều tiết dòng chảy bằng các biện pháp tự nhiên
 
- Quy hoạch khu dân cư và các công trình hạ tầng cơ sở ở vùng bãi sao cho đảm bảo khả năng thoát lũ của các dòng sông
 
Ví dụ:
 
+ Các đô thị như Bắc giang ven sông Thương, Bắc Ninh ven sông Cầu, Hưng Yên ven sông Hồng, Phủ Lý ven sông Đáy... đều có đê cấp quốc gia bảo vệ, chống được lũ với tần suất P= 15, xong về mùa mưa lũ mực nước các sông này đều cao hơn nền do vậy cao độ của các thị xã này đều chọn cao hơn mức nước max nội đồng, tại các thị xã này hệ thống thoát nước đô thị đều phải kết hợp xây dựng các hồ chứa, trạm bơm tiêu úng kết hợp tiêu nước đô thị và tiêu cho đồng ruộng
 
+ TP. Hà Nội nằm ven sông Hồng, về mùa lũ mực nước sông Hồng thường ở trên báo động cấp II > 10,5m; cấp III 11,5m trong khi nền thành phố xây dựng phỏ biến 6- 7m. Chính vì vậy  TP. Hà Nội được bảo vệ bằng hệ thống đê quốc gia chống được lũ với tần suất P= 1% cao trình mặt đê 14- 14,5m. Để tiêu úng cho Hà Nội, quy hoạch thoát nước đã đề ra biện pháp sau: toàn bộ thành phố Hà Nội tieu theo 3 con sông Kim Ngưu, Lừ, Sét, Tô Lịch và thoát vào sông Nhuệ qua đập Thanh Liệt. Khi mực nước sông Nhuệ dưới đập Thanh Liệt thấp < 4,0m hệ thống sẽ tiêu tự chảy; khi cao > 4,0m toàn bộ nước mưa được đưa về hồ Yên Sở và bơm qua đề sông Hồng. Diện tích hồ đầu mối Yên Sở 130 ha, công suất trạm bơm 90m3/s. Các trục tiêu lớn, hồ chứa đã được nạo vét, kè. Nhìn chung việc thoát nước cho Hà Nội đã được cải thiện đáng kể, tuy vậy khi mưa lớn > 150mm vẫn còn một số điểm bị ngập úng
 
+ Các đô thị miền Trung du Bắc Bộ như Thái Nguyên, Việt Trì cũng bị ảnh hưởng của lũ lụt một vài năm, tuy mức độ không lớn. Thành phố Thái Nguyên được xây dựng ở các sườn đồi trên cao độ > 29m và một số thung lũng ở cao độ 27- 28m. Khi gặp các trận lũ lớn > 28m các khu dân cư và ruộng vườn ở thung lũng bị ngập từ 1- 3m. Hiện thành phố Thái Nguyên chưa có đê bảo vệ. So sánh giữa phương án sẽ xây dựng hồ chứa điều tiết đầu nguồn hồ Nà Tanh ở xã Cao Kỳ huyện Chợ Mới, hồ Văn Lang, mở rộng đập tràn Thác Huống và phương án đắp đê, đã chọn phương án đắp đê là phương án phòng chống lũ hiệu quả và kinh tế nhất đối với  TP. Thái Nguyên. Đê dự kiến dài 11,5km từ hữu đập Thác huống ven theo sông Cầu gặp đường sắt tại ga Quán Triều và két hợp xây dựng 2 trạm bơm tiêu nước qua đê ra sông Cầu.
 
2. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
 
Với độ cao địa hình thấp so với mực nước biển, hệ thóng sông, kênh rạch chẳng chịt có 3 mặt giáp biển vì vậy lũ lụt vùng ĐBSCL phụ thuộc chủ yếu vào lũ thượng nguồn sông Mê Kông, mưa nội đồng và thủy triều biển Đông
 
Các yêu cầu trong công tác quy hoạch phòng chống lũ lụt cho các đô thị của vùng này cũng mang sắc thái riêng. Đối với quy hoạch xây dựng đô thị:
 
+ Vùng đất cao cần phát triển mở rộng đô thị. Không xây dựng trung tâm đô thị và khu dân cư sát bờ sông để tránh sạt lở. Khuyến khích xây dựng nhà cao tầng để đảm bảo tiết kiệm đất và bảo vệ chống lũ.
 
+ Đối với các đô thị ngập < 2m, các đô thị vùng đất cao và các đô thị xây dựng tập trung cần áp dụng gảii pháp đắp nền. Đối với các vùng ngập > 2m cần chọn giải pháp bao đê, khoanh vùng. tuy vậy tuỳ theo tính chất, quy mô của đô thị và chức năng sử dụng đất mà phải chấp nhận sống chung với lũ khi gặp lũ lớn
 
+ Quy hoạch khu dân cư và các công trình hạ tầng cơ sở phục vụ dân sinh

3. Vùng Trung bộ
 
Với đặc thù địa hình chia cắt mạnh, sông suối ngắn và dốc, chịu ảnh hưởng của khí hậu Đông Trường Sơn nên thiên tai lũ lụt ở đây rất khốc liệt, tghường đẻ lại hạu quả nặng nề. Các dạng lũ điển hình là lũ quét, lũ sông với tốc độ nhanh và mạnh, lũ rút cũng nhanh, tại các vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển và cửa sông thì thường bị ngập dài ngày hơn .
 
- Một số dẫn chứng về diễn biến lũ ở miền Trung:
 
+ Lũ năm 1999: do mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn một số trạm đo được lượng mưa > 1000mm nên đã liên tiếp xảy ra 2 trận lũ lớn ở mức lịch sử. Trận lũ tháng 11/1999 mực nước ở đỉnh lũ sông Hương tại Huế là 5,94m vượt báo động cấp III là 2,94m và vượt lũ lịch sử năm 1983 là 1,06m; trên sông Bồ tại Phú Ốc đỉnh lũ là 5,18m vượt lũ 1983 là 0,18m. Trên sông Trà Khúc đỉnh lũ là 8,38m vượt báo động cấp III là 2,68m và vượt lũ lịch sử 1964 là 0,35m. Hai đợt lũ đặc biệt lớn năm 1999 đã cướp đi sinh mạng của 715 người, gần 1 triệu ngôi nhà bị ngập và hàng ngàn ngôi nhà bị lũ cuốn trôi gây thiệt hại về kinh tế ước tính khoảng 5.000 tỷ đồng.
 
+ Lũ quét tại Hà Tĩnh 20/9/2002: mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn trên toàn bộ lưu vực 2 hệ thống sông La và sông Cả đã gây ra lũ lớn trên diện rộng. Mực nước lũ cao nhất trên sông La tại Linh Cảm là 7,71m trên báo động III là 1,21m gần tương đương với lũ lịch sử năm 19787,75m. Vùng thượng nguồn sông La thuộc các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang đã xảy ra lũ quét làm 53 người chết, 111 người bị thương, ước thiệt hại 824 tỷ đồng
 
- Ví dụ về một số giải pháp trong công tác quy hoạch đô thị cho các đô thị miền Trung:
 
+ Các đô thị như Thanh Hoá, Vinh tuy nằm cạnh sông Mã, sông Lam nhưng cũng không bị lũ lụt uy hiếp do Thanh Hoá đã có đê sông Mã bảo vệ và đậjp bến Ngự đã ngăn được lũ sông Mã lũ sông Mã max tại hàm rồng là 5,85m, cao trình đê > 7m, nền thành phố ở cao độ trung bình 4- 4,5m, nếu không có đập bến Ngự ngăn lũ thì Thanh Hoá hàng năm sẽ bị ngập từ 1,5- 2m về mùa lũ. Cũng tương tự như thế thành phố Vinh đã được bảo vệ nhờ tuyến đê sông Lam từ cảng Bến Thuỷ đến Cửa Hội và đập Bến Thuỷ ngăn lũ nên thành phố chỉ bị ngập úng cục bộ khi mưa to và do hệ thống thoát nước đô thị chưa hoàn chỉnh
 
+ Quảng Ngãi tuy đã có đê ven sông Trà Khúc nhưng mới đảm bảo chống lũ với tần suất P= 10% cao trình mặt đê > 8,24m. Để chống lũ triệt để cho Quảng Ngãi ngoài đê cần xây dựng hồ đầu nguồn nằm trên dòng chính theo quy hoạch sẽ xây dựng hồ Hải Giá có dung tích phòng lũ > 1,1 tỷ m3
 
+ Để chống lũ cho thành phố Huế phải trông vào việc xây dựng hồ đầu nguồn ở Dương Hoà trên sông Tả Trạch. Khi đó, mực nước lũ sông Hương sẽ được hạ thấp, khống chế tại Kim Long là 3,8m và tại sông Hương tại ví trí cầu Tràng Tiền là 3,5m. Hiện nay khi chưa có hồ đầu nguồn, thành phố Huế phải có phương án sống chung với lũ: trong nội thành các công trình xây dựng mới sẽ tôn nền cục bộ ở cao độ > 3,8m. Các khu ven đô phải chấp nhận úng ngập 0,5m trong thời gian ngắn, nếu xây dựng các công trình mới cao độ chọn > 3,0m.
 
- Các biện pháp cơ bản để phòng tránh lũ ở khu vực miền Trung
 
+ Mở rộng các lòng sông thoát lũ
 
+ Xây dựng công trình đê bao, đê khoanh vùng để bảo vệ các khu dân cư và công trình trọng điểm
 
+ Tôn nền các khu vực dự kiến xây mới tới cao độ ứng với quy chuẩn cho từng cấp đô thị
 
+ Xây dựng hệ thống các hồ chứa cắt lũ trên lưu vực sông
 
+ Xây dựng, mở rộng khẩu độ các cầu, cống và xây dựng hệ thống cầu cạn
 
+ Tăng cường khả năng thoát lũ ở cửa sông nhờ nạo vét, cải tạo, gia cố, nắn dòng...
 
+ Quy hoạch các khu tái định cư để di dân các vùng thường xuyên bị ngập lũ, bị tác động mạnh của thiên tai.
 
4. Các thành phố ven biển
 
Đó là các thành phố Hồng Gai, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Tuy Hoà... chủ yếu chịu ảnh hưởng của thuỷ triều. Nguy hiểm là khi mưa từ các sông tràn về gặp trùng với triều lên sẽ gây ngập úng ví vậy khi xây dựng cần quan tâm đến chế độ thuỷ triều, nước dâng trong gió bão.

5. Miền núi và các tỉnh vùng Tây Nguyên
 
Do đặc điểm địa hình nên khi mưa lớn ở vùng này thường xảy ra lũ quét, lũ bùn đá. Vì vậy khi nghiên cứu quy hoạch các điểm dân cư trên vùng núi phải phải nghiên cứu kỹ phân vùng lũ quét, phân vùng lũ lụt để chọn đất phát triển đô thị. Khu đất dự kiến phải được nghiên cứu các biện pháp tránh ngập lụt xói lở, lũ quét. Phải có biện pháp gia cố sườn dốc, lấp khe vực; cảnh báo các khu vực có khả năng bị lũ quét, nghiên cứu các biện pháp bảo vệ, hướng dòng hoặc di chuyển dân cư ra địa điểm khác.
 
- Ví dụ điển hình trong công tác quy hoạch đô thị cho các tỉnh miền núi: các đô thị không có đê bảo vệ, lũ đầu nguồn xảy ra rất nhanh và rút cũng nhanh. Nguy hiểm là các đợt lũ quét mang theo bùn đá rất nguy hiểm, như Lai Châu bị lũ bùn đá vào các năm 1990, 1992, 1994. Năm 1992 tại thị xã Lai Châu cũ lũ bùn đá đã phá huỷ 20 công trình hạ tầng. Tiếp đó năm 1994 lũ bùn đá tại Mường Lay phá huỷ nhiều cầu cống, nhà cửa, 30 người thiệt mạng và tràn về gây ảnh hưởng tới vùng thị xã Lai Châu cũ. Chính vì vậy Viện Quy hoạch Đô thị nông thôn Bộ Xây dựng đã đề xuất di chuyển thị xã Lai Châu cũ về Điện Biên và nay là tỉnh lỵ của Lai Châu
 
- Một ví dụ nữa là thị xã Lạng Sơn nằm cạnh sông Kỳ Cùng. Tuy không phải là sông lớn nhưng do phân phối nước không đều, lượng nước tập trung vào mùa mưa nên cũng gây lũ lụt cho khu trung tâm chính Nam Kinh và hầu hết thị xã vào năm 1986. Các trận lũ đã gây úng ngập cho Lạng Sơn là: năm 1914-258,43m; năm 1955-258,4m; năm 1968-257,3m; năm 1986-260m. Trong khi đó nền thành phố là 254-256m. Vì vậy trong đồ án quy hoạch Lạng Sơn đã chọn cao độ xây dựng cho các khu vực phát triển là 260m, còn các khu vực đã xây dựng phải chấp nhận ngập úng khi lũ vượt qua mức 258m vì thượng nguồn sông Kỳ Cùng không có khả năng xây dựng các hồ điều tiết
 
- Đối với vùng Tây Nguyên cần:
 
+ Đầu tư hoàn chỉnh, củng cố các tuyến đê bảo vệ cho các đồng bằng ven sông
 
+ Quy hoạch bố trí các khu tái định cư cho những vùng bị lũ nặng nề
 
+ Bảo vệ và phát triển tầng phủ rừng để giảm lũu và cải thiện nguồn nước mùa kiệt
 

Công tác phòng chống, giảm nhẹ thiên tai là nhiệm vụ rất nặng nề  của nhiều bộ, ngành. Với sự quan tâm đầu tư ngày càng cao về nhân tài vật lực của Nhà nước và truyền thống sáng tạo của toàn dân chắc chắn chúng ta sẽ từng bước chủ động phòng chống và hạn chế được những tổn thất do thiên tai gây ra. 

GỬI Ý KIẾN