1 Cục hàng hải VIệt Nam Vinalines VINASHIN NXB

Một số quy định pháp luật trong công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường

- Nguyễn Hữu Thắng

Luật BVMT năm 2014 cũng quy định về trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong việc xác định sự cố môi trường do thiên tai gây ra hoặc chưa xác định được nguyên nhân và trách nhiệm thì huy động các nguồn lực để tổ chức xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trường.


 
1. Khái quát chung
 
Trong thời gian qua, ở nước ta, tình hình thiên tai có chiều hướng phức tạp, diễn biến không theo quy luật và khốc liệt hơn cả về cường độ cũng như phạm vi ảnh hưởng. Không chỉ trực tiếp gây thiệt hại lớn về người và của, thiên tai còn là một trong những nguyên nhân gây ra các hiện tượng thoái hóa đất, hoang mạc hoá, ô nhiễm và nhiều sự cố về môi trường. Cùng với đó là các sự cố do con người tạo ra như tràn dầu, rò rỉ hóa chất, cháy, nổ… ngày càng gia tăng.
 
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường, Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương đã chỉ đạo và ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác này. Luật BVMT năm 2005 có thể coi là đạo luật trung tâm trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về BVMT, trong đó, công tác phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường được quy định tại Chương IX của Luật bao gồm các nội dung quan trọng: Phòng ngừa sự cố môi trường (Điều 86); An toàn hoá chất (Điều 88); An toàn hạt nhân và an toàn bức xạ (Điều 89); Ứng phó sự cố môi trường (Điều 90); Xây dựng lực lượng ứng phó sự cố môi trường (Điều 91); Khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường (Điều 93). Bên cạnh đó, Luật Hóa chất cũng quy định một số nội dung liên quan đến phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường như: Xây dựng kế hoạch ngăn ngừa và ứng phó sự cố hóa chất; Quy định trách nhiệm kiểm soát hóa chất trong các sản phẩm phục vụ đời sống…
 
Ngoài ra, việc phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường còn được quy định trong nhiều văn bản Luật khác, như: Luật phòng cháy chữa cháy quy định về việc phòng ngừa, ứng phó với các sự cố do cháy nổ; Bộ Luật Hàng hải Việt Nam quy định việc phòng ngừa, xử lý ô nhiễm biển do dầu; Luật Thủy sản quy định các chủ thể khi tham gia khai thác nguồn lợi thủy sản phải BVMT sống của các loài thủy sản, tạo cơ sở bảo vệ các nguồn thủy sản khi bị sự cố môi trường gây ô nhiễm tác động; Luật Dầu khí quy định các chủ thể tham gia hoạt động khai thác dầu khí phải có đề án và các biện pháp BVMT.
 
2. Những thuận lợi, khó khăn khi áp dụng Luật BVMT năm 2005 trong lĩnh vực phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường
 
Thuận lợi
 
Để khắc phục sự cố môi trường do thiên tai gây ra, Luật BVMT năm 2005 quy định trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải thực hiện. Các quy định có tính khái quát, tương đối đầy đủ, nội dung phù hợp với pháp luật về phòng chống thiên tai, bão, lũ... tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng thực hiện việc khắc phục hậu quả sự cố môi trường do thiên tai gây ra.
 
Luật BVMT năm 2005 quy định việc khắc phục hậu quả sự cố môi trường đặc biệt nghiêm trọng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp. Việc vận dụng và dẫn chiếu đến pháp luật về tình trạng khẩn cấp trong quá trình khắc phục hậu quả sự cố môi trường nghiêm trọng mang tính linh hoạt và phù hợp với pháp luật.
 
Khó khăn
 
Luật BVMT năm 2005 quy định trách nhiệm của chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải bảo đảm nguồn lực, trang thiết bị, đáp ứng khả năng phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường, đặc biệt là đối với cơ sở sản xuất có sử dụng hoá chất, chất phóng xạ, chất dễ gây cháy, nổ. Tuy nhiên, quy định này còn chung chung, tính khả thi không cao, khó áp dụng trong thực tiễn.
 
Bên cạnh đó, Luật quy định các bệnh viện, cơ sở y tế trong quá trình hoạt động phải có kế hoạch, trang thiết bị phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường do chất thải y tế gây ra. Các quy định này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu về BVMT, song việc áp dụng trong thực tế rất khó, do quy định chưa cụ thể, đầy đủ.
 
Đối với quy định về phòng ngừa, ứng phó sự cố trên biển, Luật quy định tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản, chủ phương tiện vận chuyển xăng, dầu, hóa chất, chất phóng xạ và các chất độc hại khác trên biển phải có kế hoạch, nhân lực, trang thiết bị bảo đảm phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường, nhưng các quy định này còn chung chung.
 
Ngoài các quy định về phòng ngừa sự cố môi trường do hoạt động của con người gây ra, Luật BVMT 2005 còn quy định về phòng ngừa sự cố môi trường do thiên tai gây ra, trong đó, giao Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện các nhiệm vụ: Xây dựng năng lực dự báo, cảnh báo về nguy cơ, diễn biến của các loại hình thiên tai có thể gây ra sự cố môi trường; Điều tra, thống kê, đánh giá nguy cơ các loại thiên tai có thể xảy ra trong phạm vi cả nước, từng khu vực; Quy hoạch, xây dựng các công trình phục vụ mục đích phòng ngừa, giảm thiểu thiệt hại ở những nơi dễ xảy ra sự cố môi trường. Tuy nhiên, các quy định này chỉ mang tính nguyên tắc, chưa quy định cụ thể trách nhiệm của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, do vậy, việc thực thi chưa đạt hiệu quả cao.
 
Các quy định của Luật về nghĩa vụ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sự cố môi trường gây ra còn dẫn chiếu lòng vòng, khó áp dụng.
 
3. Một số điểm mới quy định trong Luật BVMT năm 2014 liên quan đến phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường
 
Luật BVMT năm 2014 đã quy định cụ thể một số nội dung liên quan đến trách nhiệm của các Bộ, ngành trong việc điều tra, thống kê, đánh giá nguy cơ các loại sự cố môi trường có thể xảy ra trong phạm vi cả nước, từng khu vực, địa phương; Xây dựng năng lực phòng ngừa, cảnh báo nguy cơ và ứng phó sự cố môi trường. Đồng thời, Luật cũng quy định rõ nội dung, trách nhiệm xác định, khắc phục và bồi thường thiệt hại do sự cố môi trường; gây ra.
 
Cụ thể, Luật BVMT năm 2014 đã bổ sung Điều 111 và Điều 112 về xác định thiệt hại do sự cố môi trường và trách nhiệm khắc phục sự cố môi trường. Đối với nội dung xác định thiệt hại do sự cố môi trường, Luật đã quy định nội dung điều tra, xác định thiệt hại do sự cố môi trường, bao gồm: Phạm vi, giới hạn khu vực bị ô nhiễm do sự cố môi trường; Mức độ ô nhiễm; Nguyên nhân, trách nhiệm của các bên liên quan; Biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường; Thiệt hại đối với môi trường làm căn cứ để yêu cầu bên gây ô nhiễm, sự cố phải bồi thường.
 
Bên cạnh đó, Luật cũng đã quy định khá cụ thể trách nhiệm điều tra, xác định phạm vi ô nhiễm, thiệt hại do sự cố môi trường gây ra. Trong đó, UBND cấp tỉnh tổ chức điều tra, xác định phạm vi ô nhiễm, thiệt hại do sự cố môi trường gây ra trên địa bàn; Bộ TN&MT chỉ đạo UBND các tỉnh tổ chức, điều tra, xác định phạm vi ô nhiễm, thiệt hại do sự cố môi trường gây ra trên địa bàn liên tỉnh. Kết quả điều tra về nguyên nhân, mức độ, phạm vi ô nhiễm và thiệt hại về môi trường phải được công khai.
 
Một trong những điểm mới nữa của Luật BVMT năm 2014 so với Luật BVMT năm 2005 đó là, Luật quy định cụ thể hơn trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong công tác khắc phục sự cố môi trường. Theo quy định này, tổ chức, cá nhân khi gây sự cố môi trường có trách nhiệm: Thực hiện yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về BVMT trong quá trình điều tra, xác định phạm vi, giới hạn, mức độ, nguyên nhân, biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường; Tiến hành ngay biện pháp ngăn chặn, hạn chế nguồn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của nhân dân trong vùng. Đồng thời thực hiện biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về BVMT; Bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật và quy định của pháp luật có liên quan; Báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về BVMT việc ứng phó và khắc phục sự cố môi trường.
 
Trong trường hợp có nhiều tổ chức, cá nhân cùng gây ra sự cố môi trường mà không tự thỏa thuận về trách nhiệm thì cơ quan quản lý nhà nước về BVMT có trách nhiệm phối hợp với tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ trách nhiệm của từng đối tượng. Đối với các trường hợp xảy ra sự cố môi trường trên địa bàn liên tỉnh, việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường sẽ được thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
 
Luật BVMT năm 2014 cũng  quy định về trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong việc xác định sự cố môi trường do thiên tai gây ra hoặc chưa xác định được nguyên nhân và trách nhiệm thì huy động các nguồn lực để tổ chức xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trường.
 
Trên cơ sở đó, thời gian tới, để thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện và triển khai có hiệu quả công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường, Nhà nước cần xây dựng và ban hành những văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể hơn về nguồn lực (nhân lực, các công trình, phương tiện, thiết bị chuyên dụng) phục vụ công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường. Đồng thời, xây dựng các hướng dẫn, định mức kinh tế kỹ thuật trong việc đánh giá, xác định mức độ ô nhiễm cũng như mức bồi thường thiệt hại do sự cố môi trường gây ra; Quy định cụ thể các hành vi vi phạm về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường và các chế tài khen thưởng, xử phạt. 

GỬI Ý KIẾN