1 Cục hàng hải VIệt Nam Vinalines VINASHIN NXB

Vài nét về 3 đội tàu Giải Phóng - Tự Lực - Quyết Thắng

- VSU (giới thiệu)

(VSU). Như tin đã đưa, ngày 14-9-2014, Hội Người đi biển Việt Nam đã tổ chức Hội thảo về 3 đội tàu Giải Phóng - Tự Lực - Quyết Thắng. VSU xin giới thiệu toàn văn tóm tắt về lược sử của 3 đội tàu với mong muốn nhận được sự đóng góp của các cán bộ lão thành ngành Hàng hải Việt Nam, đặc biệt là các sỹ quan, thuyền viên đã từng tham gia 3 đội tàu Giải Phóng - Tự Lực - Quyết Thắng trong những năm chống Mỹ cứu nước.


Hội thảo về 3 đội tàu tại TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Ngô Đức Hành
 
Phần I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA BA ĐỘI TÀU
 
I. Bối cảnh lịch sử và các quyết định thành lập liên quan đến 3 đội tàu Giải phóng – Quyết thắng – Tự lực
 
Ngày 5/8/1964, Mỹ viện cớ “Sự kiện vịnh bắc bộ” tiến hành chiến dịch “Mũi tên xuyên” đánh phá miền bắc Việt Nam. Sự kiện này mở đầu cho các chiến dịch phá hoại miền bắc Việt Nam kéo dài gần 10 năm (1964 – 1973) của không quân và hải quân Mỹ.
 
Toàn ngành Đường biển thời gian này tập trung thực hiện cả hai nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu, tập trung sức vào hai khâu chính là tiếp nhận hàng hoá viện trợ của nước ngoài và bốc xếp, vận tải hàng hoá chi viện cho chiến trường Khu IV và miền Nam. Đồng thời chuẩn bị cho sự phát triển đường biển trong tương lai.
 
Nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam do Đại hội Đảng lần thứ III (năm 1960) và tình hình cách mạng lúc bấy giờ, năm 1964 Bộ Giao thông vận tải quyết định tách bộ phận vận tải đường biển từ “Quốc doanh vận tải sông biển” để thành lập 02 Công ty Vận tải đường biển 101 (bộ phận đường sông trở thành công ty 102) và tiếp nhận đoàn tàu đánh cá vỏ sắt của tỉnh Quảng Bình và của Nghệ An thành Công ty 103. Ngày 5/5/1965 Bộ Giao thông vận tải quyết định giải thể Cục vận tải đường thủy để thành lập Cục Vận tải đường sông và Cục Vận tải đường biển. Ngày 10/7/1965, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 136/CP chính thức thành lập Cục Vận tải đường biển Việt Nam. Cục được giao trách nhiệm quản lý, chỉ huy các cơ sở, bộ phận trong ngành: hệ thống cảng biển, đội tàu biển, đại lý tàu biển, bảo đảm hàng hải, công nghiệp sửa chữa cơ khí, xây dựng công trình thủy và trường đào tạo công nhân kỹ thuật đường biển
 
- Ngày 29/8/1966 Cục Vận tải đường biển quyết định giao cho Công ty 103 tổ chức đội tàu vỏ sắt, còn gọi là đội tàu Tự Lực (số hiệu Đội tàu 5-5)
- Ngày 04/10/1966 Cục Vận tải đường biển ra quyết định giải thể Công ty Vận tải đường biển (tức Công ty 101) để thành lập: 
+ Đội tàu Giải Phóng: quản lý các tàu “Giải Phóng”.
+ Đội tàu Quyết Thắng: quản lý các tàu vận tải hàng hóa và nhiên liệu tuyến đường sông.
 
Ngày 28/10/1967 Cục Vận tải đường biển quyết định giải thể Công ty 103, số cán bộ thuyền viên của công ty này bổ sung vào đội tàu Tự Lực và đội tàu Giải Phóng.
 
Tháng 2 năm 1967, Đảng uỷ Cục vận tải được thành lập, trực thuộc Đảng uỷ GTVT trung ương. Đồng chí Hoàng Mạnh Khang làm bí thư, các đồng chí Lê văn Kỳ, Nguyễn Lương Hạnh làm phó bí thư. Cùng với tổ chức Chính quyền, các đội tầu hình thành các tổ chức công đoàn, thanh niên theo mô hình tổ chức chung do Đảng uỷ Cục đường biển lãnh đạo.
 
Ngày 01/7/1970 Cục Vận tải đường biển ra quyết định giải thể 3 đội tàu (Giải Phóng, Tự Lực, Quyết Thắng) và thành lập Công ty Vận tải biển Việt Nam (Vosco) quản lý tất cả các tàu vận tải nói trên. Ngày 01/4/1975 Bộ Giao thông vận tải ra quyết định thành lập Công ty Vận tải ven biển Việt Nam (Vietcoship) quản lý các đội tàu gồm: VTB, B, Giải Phóng, Tự Lực, các tàu vận tải chặng đầu tuyến đường sông (TD, E, G, H,...). Sứ mệnh của các đội tàu Giải Phóng, Tự Lực, Quyết Thắng bước sang thời kỳ phát triển mới: thực hiện nhiệm vụ chính trị ngành Giao thông vận tải giao cho các Công ty Vosco và Vietcoship góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước thống nhất.
Tàu Giải phóng vượt qua mưa bom, bão đạn của đế quốc Mỹ. Ảnh: Vosco
 
II. Hoạt động của các đội tàu Giải Phóng, Tự Lực, Quyết Thắng và của Công ty Vận tải biển Việt Nam (Vosco) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1965-1975
 
A. Đội tàu Giải Phóng

1.  Hoàn cảnh ra đời
 
Quý 3 năm 1965, được phép của Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải và Bộ Ngoại thương đã cử các đồng chí Lý Ban - Thứ trưởng Bộ Ngoại thương, Đào Văn Quang, Bế Cao Bảo – Phó cục trưởng Cục Vận tải đường biển và đồng chí Trần Hữu Liêm - công trình sư sang đàm phán với Trung Quốc về mở luồng vận tải biển Việt-Trung, đóng giúp ta các phương tiện vận tải mới, đồng thới hoán cải 2 tàu Trạm Giang và Hoàng Phố trọng tải 2.000 tấn thành tàu chở dầu. Phía Trung Quốc đồng ý với đề nghị của ta và khẩn trương đóng mới các loại tàu: Giải Phóng, các tàu vỏ sắt để chở hàng khô và xăng dầu.
 
Đội tàu Giải Phóng được thành lập ngày  04/10/1966; đội trưởng là đồng chí Nguyễn Kỳ Lân, đội phó là đồng chí Trần Thanh Sơn. Trụ sở: 1B Hoàng Văn Thụ- Thành phố Hải Phòng.
 
Tàu Giải Phóng: trọng tải 100 tấn- lắp máy Nigata của Nhật Bản công suất 900 CV, 2 máy phát điện 10,5 kW/ máy. Tàu sơn màu xanh ghi (nước biển) phía mũi và lái, bố trí 2 khẩu súng 12.7 ly. Thuyền bộ: 13 người gồm thuyền trưởng, máy trưởng, 2 sĩ quan lái, 2 sĩ quan máy, 1 vô tuyến điện còn lại là thủy thủ và thợ máy.
 
Đợt đầu nhận 2 chiếc do đồng chí Lê Văn Vị hoa tiêu Cảng Cửa Ông làm trưởng đoàn, 2 thuyền trưởng Nguyễn Văn Tý và Nguyễn Văn Lễ dẫn tàu vào ban đêm đưa về Cảng Hải Phòng an toàn.
 
Đợt 2 nhận 3 chiếc, cả thuyền trưởng Trung Quốc và Việt Nam dẫn tàu đi luồng ngoài vịnh Hạ Long đến đảo Thượng Mai bị máy bay Mỹ băn chìm 2 chiếc, trong đó tàu mang số hiệu 1018 bị đánh chìm nhưng thuyền trưởng Trần Đại Anh người Trung Quốc may mắn thoát chết sau đó trở về Trung Quốc được phong Anh hùng, sau đó tiếp tục dẫn tàu Hồng Kỳ cũng mang số hiệu 1018 chở hàng sang Việt Nam. Một số thuyền viên Việt Nam và Trung Quốc chết và mất tích ở 2 tàu nói trên trong đó có hoa tiêu Hùynh Văn Đảnh. Một tàu do thuyền trưởng Nguyễn Văn Lễ chạy thoát được về Hải Phòng
 
Rút kinh nghiệm của 2 lần nhận tàu trước, nhiều lần nhận tàu sau này khi ra khỏi Bắc Hải chạy dọc phía bên trong đảo Vĩnh Thực, ra Cửa Tiểu luồn qua Bái Tử Long, Hạ Long rồi vượt sông Tranh (Quảng Yên ) về cảng Hải Phòng. Đầu năm 1967 số tàu Giải Phóng được tiếp nhận an toàn và tập kết tại Cảng Vật Cách, mom Thủy đội Hải Phòng là 37 chiếc.

2. Nhiệm vụ của đội tàu Giải Phóng
 
Do không quân Mỹ đánh phá ác liệt cả ngày lẫn đêm và dùng bom mìn, thủy lôi phong tỏa các cảng biển từ Hòn Gai, Hải Phòng đến Quảng Bình nên các tàu Giải Phóng chỉ hoạt động vận chuyển đạn dược, lương thực, các nhu yếu phẩm vào khu 4 (Cảng Cửa Hội, Bến Thủy, Sông Gianh, Nhật Lệ) trong các dịp nghỉ lễ Noel, Tết Dương Lịch, Tết Nguyên Đán và các đợt chiến dịch vận chuyển (như chiến dịch chống phong tỏa lần thứ nhất 1965-1968, chiến dịch 37 ngày đêm 10/1967, chiến dịch VT5 1968-1969, chiến dịch Đông Bắc …) Thời gian còn lại tàu phải sơ tán ở các sông rạch tại Hải Dương, Hà Bắc, sông Lam (Hà Tĩnh), thượng nguồn sông Gianh, sông Nhật Lệ (Quảng Bình), Cảng Phong Thành (Trung Quốc )...
Tự vệ tàu Quyết thắng vừa sản xuất vừa chiến đấu. Ảnh: Tư liệu Vosco

B. Đội tàu Quyết Thắng
 
1. Hoàn cảnh ra đời:
 
Ngày 10/9/1966 Bộ Giao thông vận tải ra quyết định chuyển giao số phương tiện và nhân lực vận chuyển xăng dầu từ Công ty vận tải Bạch Đằng (202) thuộc Cục Vận tải đường sông sang Cục Vận tải đường biển quản lý. Ngày 4/10/1966, Cục Vận tải đường biển thành lập Đội tàu dầu (cùng ngày với đội tàu Giải Phóng), do ông Ngô Tuyết làm đội trưởng; đội phó là các ông Phạm Ngọc Tuấn, Nguyễn Duy Nhai, Phạm Tân; Bí thư: ông Lê Thừa. Ngày 25/1/1968 Cục Vận tải đường biển ra quyết định đổi tên Đội tàu dầu thành đội tàu Quyết Thắng
 
Các tàu của đội tàu Quyết Thắng có ký hiệu bẳng các chữ cái ở đầu và chữ số đi kèm gồm: TD (tàu lai dắt ) E,G (sà lan 50 và 100T) H (sà lan tự hành 100, 200, 300 T) và một số tàu TL,VS chở nhiên liệu do ta và Trung Quốc sản xuất có trọng tải 50T công suất 300 CV.
Trụ sở : Số 8 Hoàng Văn Thụ - Hồng Bàng - Hải Phòng.
 
2. Nhiệm vụ của đội tàu Quyết Thắng
 
Đội tàu có nhiệm vụ tiếp nhận và vận tải xăng dầu từ các tàu nước ngoài neo đậu tại khu vực Vịnh Hạ Long đưa vào các kho xăng dầu ở Hải Phòng và vận chuyển xăng dầu đi khắp các tỉnh ở miền Bắc: Hà Nội, Nam Định, khu IV….Cung cấp xăng dầu cho tất cả các tàu của Cục Vận tải đường biển.
 
C. Đội tàu Tự Lực

1. Sự ra đời của đội tàu
 
Đội tàu Tự Lực được thành lập ngày 29/8/1966 (trực thuộc công ty 103), đoàn tàu có số hiệu 5-5. Đội trưởng: Võ Bảy; các đội phó: Phạm Mười, Đoàn Nghị. Trụ sở: 18 Trần Khánh Dư - Thành phố Hải Phòng. Lực lượng của đội tàu Tự Lực bao gồm các tàu đánh cá vỏ sắt trọng tải 20-30 tấn, các tàu vỏ sắt do các xưởng của ta đóng có trọng tải 50 tấn công suất 120CV, tàu Trung Quốc đóng trọng tải 50 tấn công suất 150CV. Ký hiệu tàu là TL hoặc VS kèm theo số phía sau, số lượng hàng trăm chiếc.
 
2. Nhiệm vụ của đội tàu
 
Vận tải, chuyển tải hàng hóa bằng đường biển (kể cả đường sông) trên tuyến đường ven biển từ Hải Phòng, Quảng Ninh vào khu 4 (các cảng: Cửa Hội, Bến Thủy, Cửa Sót, Gianh, Nhật Lệ …) trong bất kỳ tình huống nào (khi tạm ngừng chiến cũng như khi bị phong tỏa bắn phá); tham gia rà phá thủy lôi, bom từ trường, tham gia phòng chống bão lụt và hàn gắn đê điều ở Bắc Bộ. Ngoài ra, đội tàu Tự Lực còn được giao nhiệm vụ vận chuyển vũ khí đạn dược quân nhu cho chiến trường miền Nam.
Sỹ quan thuyền viên tàu Tự lực TL06 nhận Huân chương và Lẵng hoa bác Tôn ngay trên tàu. Ảnh: Tư liệu Vosco
 
Phần II. HOẠT ĐỘNG VÀ THÀNH TÍCH CỦA CÁC ĐỘI TÀU
 
Hoạt động của 3 đội tàu Tự Lực, Giải Phóng, Quyết Thắng (ngoài ra còn có đội tàu Hữu Nghị, Tăng Kít) trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước 1965-1975 có thể chia làm 3 giai đoạn:
 
Giai đoạn 1965-1968: chống chiến tranh phá hoại và phong tỏa đường biển lần thứ nhất; cụ thể tham gia các chiến dịch:
 
- Chiến dịch Đông Xuân 1965-1966;
- Chiến dịch 37 ngày đêm Đông Xuân 1966-1967
- Chiến dịch VT5.
Giai đoạn này do Cục vận tải đường biển trực tiếp quản lý và điều hành
 
Giai đoạn 1969-1971: tham gia chiến dịch vận chuyển phục vụ Đường 9 Nam Lào. Giai đoạn này do Công ty Vận tải biển Việt Nam trực tiếp quản lý và điều hành
 
Giai đoạn 1972-1975: Chống chiến tranh phá hoại và phong tỏa đường biển lần thứ nhất; cụ thể tham gia các chiến dịch:
 
- Chiến dịch mở tuyến Đông Bắc;
- Chiến dịch tổng tiến công mùa xuân năm 1975, giải phóng đất nước.
Giai đoạn này do Công ty Vận tải biển Việt Nam (Vosco) trực tiếp quản lý và điều hành.
 
I. Giai đoạn 1965 - 1968: chống địch bắn phá và phong tỏa lần thứ nhẩt
 
Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 5/8/1964 đế quốc Mỹ ngày càng leo thang dùng không quân, hải quân đánh phá thả bom mìn phong tỏa các tuyến vận tải và các cảng sông cảng biển. Từ năm 1966-1967 đế quốc Mỹ tiếp tục triển khai các chiến dịch “Sấm Rền”, “Biển Lửa” thực hiện âm mưu “Ngăn chặn cho Bắc Việt Nam không còn lối nào viện trợ từ bên ngoài”. Tháng 4/1966 máy bay Mỹ bắn phá các đảo Cô Tô, Long Châu, Hòn Dấu... Từ 29/6/1966 tới tháng 8/1966 hệ thống các kho xăng dầu dự trữ của ta ở Đức Giang (Hà Nội), Kinh Môn ( Hải Dương), Nam Định, Thái Nguyên, Bố Hạ (Hà Bắc ), Thanh Hóa, Nghệ An bị máy bay bắn phá ác liệt. Tháng 3/1967 chúng bắt đầu thả thủy lôi xuống các cảng sông, đến tháng 9/1967 đẩy mạnh bắn phá và thả thủy lôi cảng Hải Phòng, cảng Cẩm Phả, Hòn Gai (Quảng Ninh), Bến Thủy, Cửa Hội (Nghệ An), Cửa Sót, Cửa Nhượng (Hà Tĩnh), Cảng Gianh, Nhật Lệ (Quảng Bình) bị đánh đi đánh lại nhiều lần và phong tỏa bằng thủy lôi bom từ trường.
 
Để chống lại những âm mưu thủ đoạn đánh phá của địch Cục Vận tải đường biển chỉ đạo quyết tâm tổ chức tốt việc tiếp nhận hàng hóa nhập khẩu và viện trọ của các nước anh em, tăng cường tiềm lực kinh tế và quốc phòng, phục vụ sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.
 
Đội tàu Tự Lực dưới sự chỉ huy của đồng chí Võ Bảy đội trưởng, đồng chí Phạm Mười đội phó đã khẩn trương tổ chức lực lượng, không ngại khó khăn gian lao nguy hiểm vừa vận tải, vừa ngụy trang lẩn tránh địch để mở đường và giữ vững tuyến luồng vận tải không để gián đoạn trong bất kỳ tình huống nào.
 
Đội tàu được tổ chức theo 2 phân đội, 1 phan đội lấy hàng từ Cảng Hải Phòng chạy theo tuyến đường sông vào Nam Định; phân đội còn lại phân tán dọc theo 2 bờ sông Ninh Cơ sau khi lấy hàng ra cửa Lạch Giang chạy vào Bến Thủy, sông Gianh hoặc Nhật Lệ. Trên các cung đoạn từ Nam Định vào vùng duyên hải của các tỉnh khu 4 Cục vận tải đường biển chỉ đạo xây các ụ trú ẩn dã chiến và trang bị lưới ngụy trang cho tất cả các tàu Tự Lực.
 
Với phương châm tránh địch là chính, chiến đấu đánh trả máy bay, tàu chiến địch chỉ là trường hợp bất đắc dĩ. Quá trình vận chuyển sĩ quan thuyền viên đã tỏ ra bình tĩnh, gan dạ, anh dũng kiên cường, xuất hiện nhiều tấm gương xung phong đi đầu mở tuyến luồng điển hình như thuyền trưởng Trịnh Văn Vàng, thủy thủ Nguyễn Thanh Hải tàu TL 02-20 sau chuyến thứ 2 trả hàng xong sắp về đến đích thì bị máy bay địch phát hiện theo đuổi bắn chìm và 2 đồng chí đã anh dũng hi sinh.
 
Học tập tấm gương hi sinh anh dũng của các đồng chí đó, toàn bộ đội tàu đã phát động phong trào thi đua sôi nổi: giữ vững tuyến đường, quay vòng nhanh, tăng tải trọng, bảo quản tốt hàng hóa, đưa hàng tới đích an toàn.
 
Trong phong trào thi đua nhiều đơn vị điển hình như các tàu: TL 06, VS 21, VS 24. VS 32, VS 35 từ chỗ chạy từ Nam Định vào Cửa Hội 2 chuyến/tháng đã lên 3 đến 5 chuyến/ tháng và những tấm gương mưu trí dũng cảm không ngại hi sinh như các thuyền trưởng Võ Tự Trình, Ngô Lụa, Nguyên Bưng, Nguyễn Nuôi, Lê Thanh Bùi, Lê Văn Bé....
 
Đội tàu Quyết Thắng do ông Ngô Tuyết đội trưởng, Vũ Duy My đội phó chỉ huy tiếp nhận xăng dầu ở các tàu lớn neo đậu tại Vịnh Hạ Long bao gồm các tàu của Liên Xô, Trung Quốc và một số nước tư bản. Đội tổ chức các đoàn tàu lai dắt sà lan, sà lan tự hành, các tàu Tự Lực, VS chở dầu ban đêm tiếp cận mạn tàu ngoại lấy hàng xong ngụy trang về các chỗ ẩn nấp sơ tán tránh máy bay địch, đêm sau mới chuyển đến các kho tập kết. Đối với tàu sông thì vận chuyển đi Hải Phòng, Hà Nội, Hà Bắc, Nam Định. Đối với tàu VS, TL chở dầu thì vận chuyển vào Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình.
 
Trong chiến tranh xăng dầu là mặt hàng chiến lược số 1, là mạch máu đảm bảo cho giao thông thông suốt, cung cấp cho hàng ngàn xe ô tô vận chuyển hàng ra tiền tuyến, cho xe tăng máy bay chiến đấu phục vụ cho sản xuất và chiến đấu ở hậu phương. Ngoài việc cấp trực tiếp cho các tàu thuyền hoạt động trên sông, trên biển xăng dầu được tập kết ở các kho dự trữ để bơm vào đường ống chạy dọc theo đường mòn thành phố Hồ Chí Minh để cấp tận nơi chiến trường miền Nam.
 
Bằng trí thông minh, lòng dũng cảm và phải chịu những tổn thất hy sinh từ ngày 10/9/1966 đến cuối năm 1969 đội tàu Quyết Thắng đã vận chuyển trên 1.000.000 tấn xăng dầu phục vụ cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam.
 
Đối với tàu Giải Phóng khi địch đánh phá ác liệt Cục Vận tải đường biển chỉ đạo phải kiên tâm sơ tán, che dấu lực lượng ở Vịnh Hạ Long, thượng nguồn các sông ở Hà Bắc, bảo toàn lực lượng làm nhiệm vụ dự bị chiến lược “phân đội 2” sẵn sàng phục vụ các chiến dịch khi địch ngừng ném bom (những ngày Noel, lễ Tết...) vận chuyển hàng từ cảng Hải Phòng “thần tốc” 1 đêm đến khu IV.
 
Bị thất bại nặng nề ở cả 2 miền Nam, Bắc nước ta buộc Mỹ phải chấp nhận lùi một bước chiến lược. Tối 31/3/1968 Tổng thống Mỹ Johnson phải công bố quyết định ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 19 trở ra, nhưng từ vĩ tuyến 19 trở vào chúng tập trung bom đạn đánh phá ác liệt hơn, số trận ném bom tăng lên 2,6 lần, mật độ bom đạn tăng lên 20 lần. Trước tình hinh đó, Bộ chính trị Trung Ương Đảng ta ra xác định “kiên quyết đánh bại âm mưu ngăn chặn của địch, đảm bảo giao thông thông suốt, tích cực chi viện cho tiền tuyến, đẩy mạnh tiến công địch, giành thắng lợi to lớn hơn ...”
 
Ba đội tàu Giải Phóng, Tự Lực, Quyết Thắng được Cục Vận tải đường biển phân công hoạt động liên tục ở cả 2 vùng: Vùng bị địch bắn phá từ Nghệ An trở vào Nam và vùng từ vĩ tuyến 19 trở ra đồng thời chuẩn bị lực lượng sẵn sàng chớp thời cơ thực hiện các chiến dịch vận tải quy mô lớn cho khu 4.
 
Do có chủ trương đúng đắn vừa đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ hàng năm cũng như từng đợt chiến dịch, vừa phát triển phương tiện và lực lượng thuyền viên. Từ đầu năm 1968 số phương tiện đã tăng 2,4 lần về trọng tải, 11,9 lần về công suất so với năm 1964. Lực lượng thuyền viên từ 1129 người năm 1965 lên 1847 người năm 1968, số thuyền trưởng tăng 12 lần, máy trưởng tăng 10 lần và thuyền phó tăng 6,5 lần.
 
Kết quả: 6 tháng cuối năm 1968 đã vận chuyển cho khu 4: 21.551 tấn hàng hóa các loại. Chiến dịch 37 ngày đêm Đông Xuân 1965 - 1966 đã đưa vào Bến Thủy được 21.360 tấn. Chiến dich Đông Xuân 1966 - 1967 trong 3 đợt ngừng bắn Noel- Tết dương lịch, Tết âm lịch chỉ có 169 ngày hoạt động đã vận chuyển vào khu 4: 9.961 tấn trong đó vào Quảng Bình là 7185 tấn.
 
Chiến dịch VT5: Theo chủ trương của Bộ chính trị, dưới sự chỉ huy của Bộ Giao thông vận tải, Bộ Quốc phòng đây là chiến dịch vận chuyển đặc biệt lớn nhất từ trước đến thời điểm bấy giờ. Nắm vững tư tưởng chỉ đạo của Trung Ương, Cục Vận tải đường biển chỉ đạo toàn Ngành chuẩn bị lực lượng sẵn sàng chớp thời cơ thực hiện chiến dịch vận tải quy mô lớn cho khu 4: Đúng 20h ngày 1/11/1968 khi Tổng thống Mỹ tuyên bố chấm dứt hoàn toàn bắn phá miền Bắc, chiến dịch được bắt đầu.
 
Ngành Đường biển đã huy động 70% lực lượng của các đội tàu gồm 33 tàu Giải Phóng, hàng trăm tàu Tự Lực...cùng các lực lượng vận tải khác tham gia chiến dịch. Chiến dịch VT5 là ngày hội của ngành Đường biển diễn ra khẩn trương, hồ hởi và giành thắng lợi to lớn.
 
Kết quả: Đã vận chuyển 140142 tấn lương thực thực phẩm, nhu yếu phẩm cho quân dân ở Nam khu 4 và chiến trường miền Nam bằng 1,5 lần khối lượng vận chuyển vào chiến trường này trong 3 năm 1965, 1966, 1967 và vượt 12.000 tấn theo kế hoạch đề ra. Sau chiến dịch các đội tàu trở lại hoạt động theo thời chiến, sẵn sàng chiến đấu và kịp thời đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra.

II. Giai đoạn 1969-1971
 
Mặc dù chiến tranh phá hoại miền Bắc tạm ngừng nhưng hậu quả của 4 năm chiến tranh là hết sức nặng nề. Hầu hết các cầu cảng, bến bãi đều bị phá hỏng. Luồng lạch nhiều chỗ nông cạn chưa được khai thông, bom mìn, thủy lôi vẫn chưa được rà phá hết, cơ sở sản xuất bị phân tán khắp nơi. Đời sống của cán bộ công nhân viên trong ngành gặp khá nhiều khó khăn. Trước tình hình đó Cục Vận tải đường biển đã tiến hành kiểm kê tài sản trong Ngành, phục hồi lại tổ chứ chức sản xuất để hoàn thành nhiệm vụ chủ yếu là “Tập trung đảm bảo mạch máu giao thông trên biển thông suốt, liên tục kịp thời chi viện cho chiến trường miền Nam và các tỉnh khu 4 ...”
 
Trước yêu cầu phục hồi và tổ chức lại các cơ sở sản xuất theo đề nghị của Cục Vận tải đường biển, Bộ Giao thông vận tải đã ra quyết định giải thể 4 đội tàu để thành lập Công ty Vận tải biển Việt Nam. Ngày 01/7/1970 Công ty Vận tải biển Việt Nam (Vosco) chính thức đi vào hoạt động. Nhiệm vụ của Công ty là quản lý tốt các phương tiện thiết bị do Nhà nước đầu tư, tổ chức kinh doanh theo chế độ hạch toán kinh tế, mở các tuyến luồng vận tải biển trong nước và quốc tế.
 
Lúc mới thành lập Công ty quản lý 217 tàu nhưng chỉ có 34245 tấn trọng tải bao gồm các tàu Tự Lực, Giải Phóng, trọng tải từ 50-100 tấn, tàu lai dắt và sà lan trọng tải từ 40-300 tấn, số sà lan biển trọng tải 800 tấn và 7 tàu lớn trọng tải 800-3500 tấn. Phần lớn các tàu sau 4 năm hoạt động trong chiến tranh bị hư hỏng phải sửa chữa nhiều, trang thiết bị để sửa chữa thay thế thiếu thốn, các cơ sở sửa chữa của công ty và của ngảnh trình độ kỹ thuật còn lạc hậu. Đội ngũ thuyền viên, cán bộ công nhân viên có 2.775 người nhưng số được đào tạo chính quy không nhiều, hầu hết thông qua thực tế sản xuất, chiến đấu từ các phương tiện nhỏ, thô sơ …Tuy vậy với sự lao động cần cù, sáng tạo, quyết tâm cao đã được thử thách, tôi luyện trong chiến tranh, cán bộ công nhân viên và sĩ quan thuyền viên Công ty Vận tải biển Việt Nam vượt qua mọi khó khăn để ổn định và phát triển. 
 
Công tác vận tải vào Khu 4 của Công ty được ưu tiên về mọi mặt nhằm mục đich đưa nhiều hàng và lập chân hàng cho các đoàn tàu Tự Lực, Giải Phóng chuyển hàng phục vụ chiến trường.
 
Ngày 14/10/1970 Cục Vận tải đường biển quyết định thành lập “Trạm vận tải khu 4” trụ sở tại Cửa Hội (Nghệ An) và 2 phân trạm ở sông Gianh và Nhật Lệ với chức năng theo dõi, quản lý, khai thác, điều động, sửa chữa các phương tiện hoạt động ở khu 4 do đồng chí Võ Bảy nguyên đội trưởng đội Tự Lực làm trạm trưởng, các đồng chí Nguyễn Thượng Sơn, Lê Diện làm trạm phó.
 
Chiến dịch đường Nam Lào:
 
Cuối tháng 12/1970 đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ráo riết chuẩn bị cuộc hành quân lớn vào Nam Lào nhằm “cắt đứt đường vận chuyển Trường Sơn, cô lập Cách mạng miền Nam và kéo quân chủ lực của ta vào đó để tiêu diệt” Tháng 2/1971 Tổng thống Mỹ Nickson thông qua kế hoạch Abram và mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh vào đường 9 – Nam Lào đồng thời địch đã đưa nhiều tàu biệt kích bắn phá vùng ven biển miền Bắc nhằm ngăn chặn tuyến chi viện đường biển của ta.
 
Trung Ương Đảng và Chính phủ giao nhiệm vụ cho ngành Đường biển phối hợp chặt chẽ với quân chủng hải quân, công binh nhanh chóng chuyển một số lượng lớn vũ khí hạng nặng như xe tăng, thiết giáp từ miền Bắc tập kết ở khu vực Cảng Gianh để vận chuyển vào chiến trường. Với 7 tàu Tankit do các thuyền trưởng : Nguyễn Hữu Trinh, Lê Nhật Quang, Nguyễn Bá Trí, Trần Đức Thịnh, Hồ Thái Hùng, Trần Văn Tiên, Nguyễn Duy Hồ điều khiển đã mưu trí ngụy trang từ Cửa Hội vào bờ an toàn. Trong 25 ngày của tháng 2/1971 đã có 54 xe tăng T54 đã bàn giao trực tiếp cho Đoàn 559 theo đúng kế hoạch. Trong quá trình vận chuyển lực lượng thuyền viên đã chiến đấu với các tàu biệt kích của địch bảo vệ được tàu và hàng.
 
Ngoài công tác vận chuyển hàng hóa, các tàu TL, TK, TD,G, H đã tham gia vận chuyển được 2580 m3 đá hộc, 30.000 bao cát để hàn gắn đê điều ở Yên Viên (Hà Nội), Vĩnh Bảo (Hải Phòng) Nhất Trại, Gia Lương (Hà Bắc) trong các trận chống bão lụt từ tháng 8/1971 đến tháng 9/1971.
 
III. Giai đoạn 1972-1975: Chống chiến tranh phá hoại miền Bắc và chống phong tỏa sông biển lần thứ 2
 
Mùa xuân năm 1972 bằng chiến dịch vận tải 25-3 ngành Đường biển đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đưa 59.000 tấn hàng vào Nghệ An, 30.600 tấn hàng vào Hà Tĩnh, chuyển tải được 25.000 tấn hàng của các tàu Hồng Kỳ (Trung Quốc) neo ở vùng biển khu 4. Ngày 30/3/1972 quân ta tấn công tỉnh Quảng Trị và Kon Tum và từ ngày 01/4/1972 trở đi các cuộc tấn công của quân và dân ta lan rộng sang khu 5 miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
 
Trước việc thất thủ ở Quảng Trị ngày 04/4/1972 Tổng thống Mỹ Nickson quyết định “Mỹ hóa” chiến tranh ở miền Nam tập trung lực lượng không quân và hải quân đánh phá hết sức ác liệt miền Bắc. Từ ngày 06/4 đến ngày 25/4/1972 máy bay Mỹ bắn phá: Cảng Gianh, Cửa Hội, Xuân Hải, Bến Thủy. Ngày 16/4/1972 máy bay Mỹ bắn phá thành phố Hải Phòng gồm: Sở Dầu, 6 kho của cảng Hải Phòng, văn phòng Cục Vận tải đường biển, Công ty bảo hiểm Hàng Hải, xưởng cơ khí Z21, trụ sở công ty vận tải biển Việt Nam ở cả 2 địa điểm số 4 Cù Chính Lan và số 1B Hoàng Văn Thụ, khu tập thể công nhân cầu Tre … 81 cán bộ công nhân, thuyền viên của Ngành đã hy sinh. Ngày 08/5/1972 Mỹ quyết định phong tỏa toàn bộ các tuyến vận tải đường biển ở miền Bắc và cảng Hải Phòng bằng bom mìn, thủy lôi thế hệ mới.
 
Trong tình hình đó tại Khu 4 lực lượng đội tàu của Công ty gồm 17 tàu Giải Phóng, 94 tàu Tự Lực bị đe dọa nghiêm trọng. Để đảm bảo lực lượng, sau khi xin ý kiến của cấp trên và Bộ tư lệnh quân khu 4, đồng chí Võ Bảy đã quyết định rút phần lớn đội tàu ra khỏi Khu 4 và miền Bắc. Vì vậy 67 tàu rút về được an toàn, 33 tàu bị địch bắn chìm. Rất nhiều cán bộ và thuyền viên đã anh dũng hy sinh. Tại Hải Phòng, văn phòng Công ty chỉ để một lực lượng cắm chốt và trực chiến, phần lớn phòng ban đều phải sơ tán tại huyện Kinh Môn (Hải Dương)
 
Chiến dịch mở luồng Đông Bắc
 
Giữa năm 1972 cuộc chiến chống phong tỏa được triển khai rộng khắp trên hầu hết vùng biển miền Bắc. Lực lượng rà phá thủy lôi, bom mìn của ngành đường biển phối hợp chặt chẽ với các lực lượng Hải quân, các quân khu, các tỉnh thành phố ven biển thực hiện quét thủy lôi bằng những phương tiện khí tài mới được trang bị. Hầu hết các tàu Tự Lực, Giải Phóng đã trực tiếp mở luồng Đông Bắc.
 
Tháng 6/1972 các tàu Giải Phóng 16, Giải Phóng 25 do thuyền trưởng Nguyễn Ngọc Tuyền và Nguyễn Ngọc Quang và một số thuyền trưởng khác theo 2 tàu trên đi thử mở luồng thành công.
 
Tháng 7/1972 huy động toàn bộ số tàu Giải Phóng, Tự Lực và Quyết Thắng vào tham gia chiến dịch. Trong tháng này Trung Quốc viện trợ cho ta 50 tàu VS-50T (gồm cả tàu chở hàng và chở xăng dầu) 8 sà lan biển (800-2000T), 4 tàu kéo biển. Do có thêm phương tiện, chiến dịch Đông Bắc đã thắng lợi tốt đẹp, khối lượng nhập khẩu hàng từ Trung Quốc về Hải Phòng tăng từ 7000 tấn tháng 7/1972 lên 22300 tấn (tháng 12/1972).
 
Tại khu 4 do địch bắn phá và phong tỏa mạnh tàu của ta không vào được, Cục Vận tải đường biển đã vận động tàu Trung Quốc vào Hòn Ngư neo đậu và áp dụng phương thức thả trôi hàng từ vùng neo vào bờ và đã thu được kết quả đáng kể. Tuy vậy các tàu Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan… đậu ở cảng Hải Phòng và Hòn Ngư nhiều lần bị máy bay Mỹ bắn phá.
 
Sau chiến dịch đánh phá Hà Nội, Hải Phòng 12 ngày đêm bị thất bại thảm hại, Mỹ phải ngừng ném bom miền Bắc (15/01/1973) và buộc phải ký hiệp định Paris (27/01/1973) lập lại hòa bình ở Việt Nam đồng thời có trách nhiệm tháo gỡ thủy lôi ở vùng biển miền Bắc Việt Nam.
 
Ngày 16/01/1973 tàu HQ160 mở luồng đưa tàu 20-7 của Công ty Vận tải biển Việt Nam vào cảng Hải Phòng, khai thông cho các tàu Trung Quốc, Cu Ba, Liên Xô và các nước khác nhập hàng cho ta. Cuối tháng 7/1973 tất cả các tuyến luồng và các cảng ở miền Bắc đa được rà phá hết thủy lôi.

Chiến dịch tổng tiến công giải phóng miền Nam thống nhất đất nước ngày 30/4/1975
 
Ngày 31/3/1975 Trung ương Đảng quyết định thành lập các đoàn cán bộ khung để giải phóng đến đâu tiếp quản đến đó. Bộ Giao thông vận tải ra nghị quyết “Địch rút đến đâu vận tải đường biển vươn tới đó”. Ngày 1/4/1975 Bộ Giao thông vận tải ra quyết định thành lập Công ty vận tải ven biển Việt Nam (Vinaship) quản lý các tàu của toàn bộ 3 đội tàu Giải Phóng, Tự Lực, Quyết Thắng trước đây và các sà lan biển, tàu kéo biển và phần lớn thuyền viên cán bộ nhân viên. Các tàu lớn (thuộc đội tàu Hữu Nghị trước đây) và một lực lượng thuyền viên cán bộ nhân viên còn lại do Công ty Vận tải biển Việt Nam (Vosco) quản lý.
 
Trong hai năm 1972-1973 Công ty Vận tải biển Việt Nam đã huy động 36 tàu Tự Lực chở tên lửa “SAM 2” phục vụ kịp thời cho cuộc tấn công thị xã Đông Hà (Quảng Trị), các tàu Giải Phóng được giao nhiệm vụ chở người, lương thực vào Đà Nẵng sau khi thành phố này được giải phóng vào ngày 29/3/1975. 
 
B. SỰ TỔN THẤT VỀ NGƯỜI VÀ PHƯƠNG TIỆN CỦA CÁC ĐỘI TẦU : GIẢI PHÓNG – QUYẾT THẮNG – TỰ LỰC ĐÃ GÓP PHẦN  TẠO NÊN CHIẾN THẮNG CỦA CẢ DÂN TỘC TRONG CUỘC CHIẾN TRANH  (thời kỳ 1965 đến 1975) 
 
*Năm 1965; ngày 11/5/1965: Tàu đoàn kết (600T) bị bắn chìm ở cảng Bến Thủy, chính ủy Tâm hi sinh.
 
*Năm 1966:
 
 1. Tàu TL02-20 bị bắn chìm ở Nghĩa Hưng, Nam Hà
- Thuyền trưởng Nguyễn Văn Vàng hi sinh.
- Thủy thủ Nguyễn Thanh Hải hi sinh. 
 
 2. Tàu TL52 bị bắn chìm ở Bãi Lữ, Nghi Lộc, Nghệ An
- 6 thuyền viên ( trong đó thuyền trưởng Hồ Phước Huyên ) hi sinh.
 
 3. TL 07 bị bắn chìm ở Lạch Trường, Thanh Hóa
- 3 thuyền viên hi sinh, 3 thuyền viên bị thương.
 
 4. 2 tàu Giải Phóng mới nhận bị bắn chìm tại Thượng Mai, Hạ Long
- 1 thủy thủ Nguyễn Văn Tý hi sinh
- 1 hoa tiêu Huỳnh Ngọc Đảnh hi sinh.
 
 5. Tàu GF12 bị dân quân Ninh Bình bắn nhầm
- VTĐ (Lâm) bị chết tại cửa Ba Lạt
 
*Năm 1972:
 
 1. 06/4/1972 Tàu GF29 bị bắn hư hỏng nặng tại Cảng Gianh Quảng Bình, 1 phó 2 (Tuyến), 1 máy 3 (Phôn) bị thương
 
 2. 14/4/1972 Tàu GF06 bị bắn hỏng tại Bến Thủy Nghệ An
-1 thợ máy (Chuyên), 1 thủy thủ (Huân) hi sinh
-1 phó 2 (Túy), 4 thủy thủ bị thương.
 
 3. 14/4/1972 Tàu GF04 bị bắn ở Xuân Hải, Nghi Xuân, Hà Tĩnh
- 1 phó 3 (Lê Ngọc Trà), 1 thủy thủ (Du) bị thương.
 
 4. Ngày 15/4/1972 GF17 bị bắn chìm ở Biện Sơn, Thanh Hóa, không thiệt hại về người.
 
 5. Ngày 16/4/1972 Tàu GF28 bị bắn ở Cầu 1 Cảng Hải Phòng
- 8 thuyền viên hy sinh (gồm thuyền trưởng (Tùng), phó 2 (Loát), phó 3 (Hải), thủy thủ (Hương, Nga), thợ máy (Vọng), kỹ sư (Thiện), trung cấp (Chiến).
- 3 thuyền viên bị thương (Tái, Ngạch, Thành).
 
 6. Ngày 16/4/1972 Các sà lan D, G, H chờ sửa chữa tại xưởng Z21 bị bom B52: hi sinh 6 thuyền viên, đưa về khâm liệm tại số 8 Hoàng Văn Thụ, Hải Phòng chuyển đến hội trường Công ty vận tải biển Việt Nam làm lễ truy điệu, bị đánh bom lần 2 vào 15h ngay 17/4/1972.
- Đêm 17/4/1972 : Cán bộ phòng khai thác Công ty Thành Thượng Cần bị bom chết khi máy bay địch bắn phá, trụ sở 1B Hoàng Văn Thụ, Hải Phòng.
- Trong ngày 16/4/1972: 81 cán bộ, công nhân, thuyền viên của ngành bị bom đạn Mỹ sát hại.
 
 7. Những tháng cuối năm 1971, 6 tháng đầu năm 1972 tại khu 4: 33 tàu bị bắn chìm, hầu hết là tàu Tự Lực, chưa thống kê được số người chết, bị thương.
 
 8.  Tháng 7/1972 
- Tàu GF07 bị bắn gần Hòn 1 Hạ Long.
- Máy 3 (Hùng) hi sinh.
 
Như vậy thống kê chưa đầy đủ trong các năm 1965, 1966, 1972 đã có 41 phương tiện vận tải biển bị đánh đắm, hàng chục tàu bị hư hại, 33 thuyền viên bị hi sinh và hàng chục thuyền viên bị thương……

PHẦN THỨ III. THÀNH TÍCH ĐÃ ĐƯỢC KHEN THƯỞNG CỦA 3 ĐỘI TÀU TRONG THỜI GIAN 1965-1975
 
Trải qua mười năm sản xuất và chiến đấu (1965-1975) sĩ quan, thuyền viên của 3 đội tàu đã có những cống hiến xuất sắc được Đảng, Nhà nước, cán bộ và các ban ngành tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen, huân huy chương cũng như những danh hiệu khác. Tuy vậy đối với thành tích cá nhân, do chiến tranh đã lâu, người còn, người mất; đối với tập thể chỉ có một số tàu và thời gian có hạn nên đến nay chưa thể tập hợp được đầy đủ. Một số trường hợp điển hình. Đó là:
 
- Ngày 07/6/1972 Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tôn Đức Thắng đã tặng danh hiệu Anh hùng cho tập thể tàu TL06-50.  
- Ngày 31/12/1973 Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tôn Đức Thắng tặng danh hiệu Anh hùng cho tàu Tankit154 (phá bom).  
- Năm 1972 tàu Giải Phóng 16 được tặng thưởng Huy chương chiến công hạng 3
- Hàng trăm sĩ quan thuyền viên được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thương huân chương chống Mỹ cứu nước hạng nhất, nhì, ba và huy chương chống Mỹ cứu nước hạng nhất, nhì trong những năm của thập niên 90.
- Thuyền trưởng Phạm Bá Tâm tàu Giải Phóng 20 được Nhà nước tặng 8 bằng khen trong thời gian từ năm 1967 đến 1972.
 
Ba đội tầu GP-QT-TL là tiền thân của các đội tầu biển thuộc ngành hàng hải Việt Nam. Cán bộ thuyền viên của các tầu trong chiến tranh đã không sợ gian khổ, hi sinh…,trong hoà bình đã là nòng cốt của các đội tầu : Vosco, Vinaship,Vitranchart, các đội tầu địa phương, đội tầu phục vụ khai thác dầu khí…Tổ chức của 3 đội tầu tuy đến nay không còn nữa nhưng những tấm gương lao động sáng tạo, dũng cảm vượt qua bom đạn của sỹ quan thuyền viên dưới sự chỉ huy của cán bộ quản lý  để bảo vệ tầu, hàng hoá…đã, đang và chắc chắn sẽ là bài học quý giá  trong sự nghiệp phát triển ngành hàng hải Việt Nam cho hôm nay và cho cả mai sau. 
 
Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về: 
 
1. Trưởng ban liên lạc ba đội tàu GP - TL - QT, nguyên thuyền trưởng Nguyễn Ngọc Tuyền; nguyên Thuyền trưởng các tàu GP02, GP09, GP16, GP18; nguyên Thuyền trưởng tàu Aquamarine (Vietfracht)...; Số máy 08.38720963.
 
2. Chủ tịch Hội Người đi biển Việt Nam, TS. Chu Quang Thứ, nguyên thủy thủ tàu GP02, GP28, GP29,GP36; nguyên Quản trị tàu khách Thống Nhất (Vinaship); nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục Đường biển, Phó tổng giám đốc Liên hiệp Hàng hải Việt Nam; nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam; DD: 0903.6128139.

 

GỬI Ý KIẾN
  • Chu Quang Thứ ( vptkml@gmail.com )

    Ngày 16.4.1972, tầu GP 28 đã bị rockét khi đang chiến đấu với máy bay Mỹ tại cảng Hải Phòng...8 sỹ quan, thuyền viên hu sinh. Thuỷ thủ "Phạm Khương (Trong bài ghi nhầm tên là Hương), là kỹ sư khai thác vận tải biển khoá 6, quê Bình Định... đã hi sinh.