1 Cục hàng hải VIệt Nam Vinalines VINASHIN NXB

Phó Đô đốc Đỗ Xuân Công: Muốn giữ được biển đảo phải tuyệt đối giữ mình

- Nguồn: Trí thức Trẻ & Soha

Nhiệm vụ của Hải quân Việt Nam lúc này là vừa bảo vệ được toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ vừa phải giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Nhiệm vụ này tuy rất khó khăn, nhưng Hải quân phải làm được, và làm tốt.


Thanh An: Thưa Phó Đô đốc, chúng ta sẽ bắt đầu câu chuyện bằng một câu hỏi rất thẳng và thật mà tôi mong ông sẵn lòng chia sẻ. Theo ông, để làm tốt nhiệm vụ Tư lệnh của một quân chủng, ngoài tài năng, trình độ chuyên môn và bản lĩnh chính trị ra thì còn phải lưu ý đến điều gì?
 
Phó Đô đốc Đỗ Xuân Công: Câu này bạn hỏi đúng với suy tư của tôi đấy. Hồi anh Phạm Hoài Nam - Tư lệnh Hải quân hiện nay vào thăm tôi nhân dịp Tết cũng là dịp cậu ấy vừa lên chức Tư lệnh, chúng tôi đã trao đổi nhiều việc từ củng cố lực lượng, kế hoạch chiến đấu, phương hướng phát triển… Đến cuối, cậu ấy hỏi: "Chú thấy có việc gì cần phải dặn dò thêm cháu?"
 
Hôm đó tôi cũng mang cái tình nghĩa rất thật ra mà nói. "Nam phải xác định làm Tư lệnh là khó lắm cháu ạ". Thực tế làm cấp dưới đôi khi sơ suất còn có cấp trên rồi tổ chức hướng dẫn, chỉnh đốn. Nhưng làm đến vị trí Tư lệnh, người đứng đầu cả một quân chủng lớn nhất đất nước như vậy, là rất khó.
 
Khó ở nhiều việc, kể cả chuyên môn lẫn đối sách. Đối với trên đối với dưới. Đối với ta đối với địch… "Cái đó trong quá trình làm việc rồi cháu sẽ rút ra được bài học cho mình. Nhưng có một điều bắt buộc chú muốn dặn cháu là nhớ tuyệt đối giữ mình. Giữ mình ở đây nghĩa là giữ phẩm chất đạo đức. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, người chỉ huy mà phẩm chất đạo đức không mẫu mực dễ mất uy tín lắm. Một khi mất uy tín thì còn gì để chỉ huy, lãnh đạo được nữa. Có những cái người thường ăn được, nhưng mình không ăn được. Có những chỗ người thường chơi được, mình không chơi được. Chú nói ngắn gọn vậy thôi nhưng cháu phải nghĩ xa vào. Muốn giữ được biển, giữ được đảo ngoài khơi xa, đầu tiên phải giữ được mình ở trong nhà trước đã".
 
 
Thanh An: Vậy với Phó Đô Đốc thì như thế nào? Trong quá trình công tác có những cám dỗ nào khiến ông trăn trở không?
 
Phó Đô đốc Đỗ Xuân Công: Nói thực ra, có lẽ may mắn cho tôi vì thời đó chưa có những tiêu cực như sau này. Nhưng cái thứ hai quan trọng hơn đó là bản chất con người. Một khi người ta có ý chí và quyết tâm giữ mình, giữ danh dự, giữ uy tín thì ở vào môi trường nào người ta cũng giữ được. Chứ còn anh ham ăn ham chơi, tự mình không nghiêm thì dù ở môi trường trong sạch cỡ nào đi chăng nữa cũng dễ hỏng. Có khi chính anh lại đầu têu ra sự thoái hóa. Cho nên tôi thấy thế này, những chuyện vừa rồi của chú Nguyễn Văn Hiến (nguyên thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, nguyên tư lệnh Hải Quân - PV) là va vấp. Chuyện đất cát hay quyền lợi, tuyệt đối không có được tham.
 
Đây là một sự đau xót. Lính hải quân bao nhiêu phong ba bão tố cũng đều vượt qua. Sợ nhất lúc trở vào bờ. Người nào không vững chí giữ mình rất dễ bị say cạn.
 
Cho nên quan điểm của tôi ngay với chính gia đình mình, tôi dặn các con lấy bố ra mà làm gương. "Con đường sống của bố có ba chữ KHÔNG lúc nào các con cũng phải nhớ".
 
Thứ nhất, KHÔNG làm điều gì VI PHẠM PHÁP LUẬT. Có việc đơn giản là làm đúng pháp luật, đúng kỷ luật quân đội mà anh không làm được thì anh còn đòi làm gì nữa? Ngay chuyện rất nhỏ như bữa ăn của quan chức bây giờ, chỉ cần thiếu tỉnh táo, để lòng tham che mắt là cái tay, cái mồm làm cho mình vi phạm luôn đấy. Anh ăn bữa cơm doanh nghiệp mời, đĩa cá, con thú quý hiếm trên bàn, anh có biết nó trong sách đỏ? Anh có biết nó là động vật hoang dã cấm săn bắt? Anh có biết nó là hàng nhập lậu?... Những thứ pháp luật không cho, tuyệt đối không bao giờ được phạm vào.
 
Cái KHÔNG thứ hai là KHÔNG LÀM TRÁI LƯƠNG TÂM. Thực tế cuộc sống có những khoảng trống pháp luật chưa bao quát hết, thế mới sinh ra nhu cầu sửa luật chứ. Những lúc đó, lương tâm con người phải làm được nhiệm vụ là rào chắn, là barie để giữ mình. Việc lách luật, làm vụng làm trộm có thể người đời không biết nhưng lương tâm biết đúng biết sai chứ.
 
KHÔNG thứ ba, nói đơn giản mà dễ hiểu là KHÔNG THAM. Bởi vì từ chỗ tham có thể đẻ ra chuyện bất chấp lương tâm, từ chỗ tham có thể khiến người ta liều lĩnh làm trái pháp luật. Nó là ngọn nguồn của những vấp váp, trượt dài không thể cứu chữa sau này.
 
Ngoài dạy con cháu, bạn bè thân thiết đến chơi tôi cũng chia sẻ. Vì rút ra từ bản thân mình nên anh em thấy đúng. Tôi không dám nói mình hoàn hảo nhưng anh em thấy mình làm được nhiều điều tốt thì họ cũng quý.
 
 
Thanh An: Đúng là có lương tâm thì vừa giữ được mình vừa cảm hóa được người. Có phải vì đã rất thấu điều này, nên ngay sau giải phóng miền Nam năm 1975, ông đã dùng nhân tâm để cảm hóa 76 cán bộ, thủy thủ của chế độ Việt Nam cộng hòa, khiến góp sức đắc lực vào việc chuyển giao vận hành tuần dương hạm đặc biệt của Hải quân Việt Nam lúc đó?
 
Phó Đô đốc Đỗ Xuân Công: Đó là một câu chuyện khó quên. Tôi vẫn nhớ con tàu mình được giao làm thuyền trưởng ngay sau khi đất nước thống nhất, tàu HQ01. Trước nó có tên là Phạm Ngũ Lão - một chiếc tuần dương hạm chiến lợi phẩm của Hải quân Việt Nam Cộng hòa bỏ lại. Điểm đặc biệt đầu tiên là nó được hạ thủy ở Mỹ năm 1943, cùng năm sinh với tôi. Sự trùng hợp này khá thú vị. Thứ hai nữa, đây là con tàu lớn nhất và hiện đại nhất của Hải quân Nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ.
 
Đặc thù của Hải quân là quân chủng kỹ thuật, tiếp quản một con tàu không dễ dàng để chỉ huy, điều khiển nó ngay được. Tàu lại to như thế. Hồi ở ngoài Bắc, Tiểu đoàn 7 đơn vị cũ của tôi, tàu lớn nhất có 100 tấn thôi. Vậy mà bây giờ mình tiếp quản con tàu 3.200 tấn, lớn gấp 32 lần. Rồi ông thuyền trưởng cũ, bạn biết không, mang quân hàm Trung tá, được học ở Mỹ và trực tiếp nhận tàu từ Mỹ về. Trong khi tôi lúc đó là gì? Thượng úy. Lại trong tình thế cực kỳ khó khăn. Tàu có biên chế 220 người. Bao gồm, thủy thủ đoàn là lính bộ binh vừa bổ sung xuống, chưa được học hành gì về hàng hải, và 76 nhân viên kỹ thuật là người của chế độ cũ, được đào tạo nghiệp vụ tại Mỹ, tình nguyện ở lại phục vụ.
 
Tôi chỉ có một cách duy nhất, sử dụng chính đội ngũ 76 con người hiểu biết rất rõ về tàu để huấn luyện lại cho đội thủy thủ mới. Thời đó, nhiều người nhắc tôi phải có giải pháp riêng với 76 nhân viên kỹ thuật này. Tôi lại nghĩ khác. Những nhân viên kỹ thuật này, lính trên tàu, ngay cả tôi nữa, đều là đã là dân của một nước rồi. Đất nước ta thống nhất về một mối rồi cơ mà. 220 con người chúng tôi đang ở cùng trên một ngôi nhà là HQ01 cơ mà. 220 con người này sẽ có chung một mục tiêu, thậm chí là chung một tình yêu là biển đảo của Tổ quốc cơ mà. Sao lại chia rẽ, phân biệt nhau?
 
Hơn nữa, mình cũng quan sát họ chứ. Họ đều là lính hải quân cả, sống rất vui vẻ hòa đồng. Nhưng trong cách sinh hoạt, mình phát hiện họ vẫn luôn mặc cảm vì xuất thân ở phía bên kia. Cho nên giai đoạn đầu, họ không tự nhiên cởi mở hết tâm tư đâu. Chính vì họ chưa cởi mở nên mình mới cần chủ động mở lòng trước.
 
 

 
Đầu tiên, tôi quán triệt tất cả mọi người trên tàu từ thuyền trưởng, sĩ quan cho đến thủy thủ, công nhân kỹ thuật… đều được đảm bảo đầy đủ chế độ. Không có bất kỳ sự phân biệt nào. Ngay như chuyện nhỏ nhất là ăn uống, anh em cũng bày mâm ra ngồi cùng nhau. Mọi hoạt động tập thể đều gắn bó và thống nhất. Mọi sinh hoạt cá nhân đều được tôn trọng và tuân theo kỷ luật quân đội. Thứ hai, trong công việc mình tin tưởng họ tuyệt đối như với những người lính vào sinh ra tử của mình. Mình tin họ thì họ cũng rất tin mình. Cho nên họ đào tạo cho thủy thủ hết lòng hết sức. Rồi tiếp đến, mình cũng phải thực bụng nghĩ cho tương lai lâu dài của họ. Mình giới thiệu họ lên làm ở nhà máy Ba Son sau khi xong nghĩa vụ chuyển giao tàu.
 
Nhờ vậy mà vừa tiếp quản tàu tháng trước, tháng sau đã ra biển hoạt động luôn. Ai cũng bất ngờ vì lính còn chưa biết mô tê gì cả mà thuyền trưởng dám đưa tàu chở cả Bộ Tư lệnh ra khảo sát toàn bộ vùng biển mới giải phóng của đất nước. Có người còn hỏi, lỡ họ làm phản thì sao?
 
Trời ơi, mình phải tin là họ cũng có lòng yêu nước chứ. Họ cũng biết đến sự thiêng liêng của nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quê hương do cha ông để lại chứ. Bây giờ mình vẫn nói với nhau về hòa hợp dân tộc. Hòa hợp là gì? Là đừng có phân biệt gì nữa cả. Là hòa chung tình yêu đất nước với nhau để mà cùng đưa con tàu Việt Nam ra biển lớn đi. Có phải hơn không? Vì mình còn có rất nhiều kẻ địch đang nhòm ngó ở khơi xa kia kìa.
 
 
Thanh An: Xin ông có thể rõ hơn về những nguy cơ nào xuất hiện trong giai đoạn này đe dọa đến sự an nguy và toàn vẹn lãnh thổ trên biển của Việt Nam thưa ông?
 
Phó Đô đốc Đỗ Xuân Công: Biên giới phía Bắc nước ta năm 1979 bị Trung Quốc xâm lược, cùng lúc đó trên vùng biển phía Bắc, tình hình ngày càng căng thẳng do hành động xâm nhập thường xuyên của tàu thuyền và máy bay Trung Quốc. Nói như vậy để bạn hiểu rằng, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trên biển của Tổ quốc suốt trong cả tiến trình lịch sử luôn bị nhòm ngó, đe dọa.
 
Rất may là thời điểm đó Hải quân có một vị Tư lệnh có được tầm nhìn chiến lược là Đô đốc Giáp Văn Cương. Ngay sau khi đất nước thống nhất, tiếp quản vùng biển đảo từ chế độ cũ, tướng Cương đã tìm kiếm, nghiên cứu nhiều tài liệu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn để lại, cộng với những tham khảo thực địa của mình. Ông đã nhìn ra được những tiềm năng to lớn của biển đảo đối với sự phát triển của đất nước. Đồng thời ông nhận định: "Tương lai gần và cả về lâu dài, tình hình Biển Đông sẽ diễn biến ngày càng căng thẳng, phức tạp, khó lường".
 
Trong hai năm 1986-1987, một mặt ông yêu cầu bộ phận tác chiến soạn thảo gấp kế hoạch và phương án phòng thủ Trường Sa. Mặt khác ông đề xuất với Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chấp thuận kế hoạch bảo vệ chủ quyền ở Trường Sa và thềm lục địa phía Nam. Ngay sau khi kế hoạch được cấp trên chấp thuận, ông ra lệnh: nhanh chóng dốc toàn lực ra Trường Sa để tăng cường, củng cố chủ quyền tất cả đảo nổi, đảo chìm mà quân dân Việt Nam đang đồn trú và sinh sống bao đời. Đối với những đảo chìm thuộc chủ quyền Việt Nam nhưng chưa có quân đồn trú, ông yêu cầu "kiên quyết đóng nhanh, đóng đồng thời tất cả các đảo, nếu cần có thể dùng mọi loại tàu để ủi bãi".
 
Tôi thời kỳ đó đang làm Phó Tư lệnh phụ trách tác chiến Vùng 4, trở thành một trong những người trực tiếp nghiên cứu, thực nghiệm và hoàn thiện các phương án xây nhà giữa biển, góp phần hiện thực hóa tầm nhìn xa của Đô đốc Giáp Văn Cương.

Thanh An: Đã có điều gì khiến ông ấn tượng nhất về những ngày cùng đồng đội xây nhà giữa biển nhiều chục năm trước?
 
Phó Đô đốc Đỗ Xuân Công: Xây nhà trên các đảo nổi còn dễ thở, nhưng tại hệ thống đảo chìm mới là vấn đề. Anh em vừa làm vừa học, thậm chí làm được cái sau thì cái trước phải bỏ.
 
Đầu tiên, chúng tôi tổ chức cho nhà máy Ba Son đóng các pông tông, to lắm, cỡ như cái phà. Diện tích một pông tông phải đủ cho 12 người ở, chứa được lương thực thực phẩm dự trữ và có thiết kế súng 14,5 ly để phòng ngự. Làm xong thì cho công binh kéo ra biển. Lúc này mới phát hiện điểm dở của pông tông là nổi theo con nước. Nước cạn thì nằm yên trên đảo vì mình đã cố định 4 góc xuống đá ngầm. Nhưng lúc thủy triều lên, nước lớn thêm sóng gió bão bùng thì pông tông cứ bập bềnh làm cho người ở trên đó vô cùng khó chịu. Hai nữa là dễ bị đứt neo, nhiều cái trôi mất luôn. Cho nên phương án nhà pông tông thử nghiệm vài cái thì thấy không được.  
 
Đô đốc Giáp Văn Cương thị phạm trong một buổi tập bắn đạn thật.
 
Đúng thời điểm đó, có những dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đã rục rịch mò xuống Trường Sa. Hải quân ta phát hiện đối phương thả trộm những cột mốc, bia bê tông khắc chữ Trung Quốc vào trong các bãi san hô của mình. Chúng tôi xoay sang phương án làm nhà cao chân bằng những cột đúc bê tông. Mặc dù thời gian đóng bê tông tuy lâu nhưng khi ra biển lại có tác dụng rất tốt là giúp nhanh chóng làm chủ đảo. Dựng nhà này chỉ cần 5 - 6 hôm là xong. Ưu điểm đó quý lắm vì thời gian lúc ấy đối với chúng ta còn hơn vàng.
 
Tuy nhiên chờ một cột bê tông đông đặc phải mất 15 - 20 ngày, lại còn thời gian chuyên chở ra đảo. Tình hình này, sợ lỡ mất thời cơ. Tôi mới đi lùng khắp căn cứ hải quân Cam Ranh thì thấy có nhiều cột điện cũ của Mỹ giờ không sử dụng nữa. Vốn dĩ ngày xưa họ dùng toàn cột thông cao 10m - 15m để làm cột dẫn điện. Tôi mới cho công binh đo rồi cưa theo kích cỡ 4,5m mỗi cột thay cho bê tông và chuyên chở ra làm nhà cấp 3 ở đảo luôn. Nhà này dựng thì nhanh nhưng lại có nhược điểm hễ sóng to là dễ đổ, dễ đắm. Tình thế bắt buộc chúng tôi phải tìm phương án làm cột sắt chứ không dùng cột gỗ nữa. Thế là chúng tôi lại bắt tay vào làm nhà cấp 2 bằng cột sắt, khung sắt khiến nhà nặng nằm chắc chắn trên các bãi đá ngầm. Công binh làm được 4 - 5 cái thì phát hiện ra, trong môi trường nước mặn sắt bị rỉ rất nhanh.
 
Đến loại nhà sau cùng - nhà cấp 1, chúng tôi mới hoàn thiện được công nghệ. Ở Trường Sa có 9 đảo nổi, 12 đảo chìm thì chúng ta đều đã xây nhà bê tông cốt thép. Và nó đứng vững, đứng lâu dài cho đến tận hôm nay.
 
 
 
 
Thanh An: Khi chứng kiến thành quả như vậy chắc ông cùng đồng đội cũng sẽ cảm thấy quên đi bao khó khăn…
 
Phó Đô đốc Đỗ Xuân Công: Sung sướng nên vơi đi chớ không có quên được. Vì ngoài khơi, chỗ nào xây nhà cũng khó khăn kinh khủng hết. Điểm cất nhà thì ở trong bãi cạn mà tàu chở hàng to cả nghìn tấn đâu có cầu cảng để cập vào đâu. Vật liệu lại toàn đồ nặng: đá dăm, xi măng, cát, sắt thép…
 
Lúc bấy giờ tàu phải thả neo cách bãi tập kết khoảng 500 - 600m. Bộ đội lấy dây ni lông to bằng ngón chân cái, dài 600 - 700m, một đầu buộc vào tàu, một đầu dùng xuồng tiến lên cắm thành điểm mình dự kiến làm nhà ở trong đảo. Rồi từ đó dùng xuồng nhôm vận chuyển từng tấn vật liệu vào. Mà ngày đấy, ác nghiệt là chỉ có dùng sức bộ đội được thôi. Anh em ngồi trên xuồng, tay lần theo dây ni lông kéo vào kéo ra không biết bao nhiêu chuyến. Đúng là chỉ có bộ đội Hải quân mới làm được. Không ai làm nổi. Vì Hải quân mới biết bơi, mới biết lựa để không đắm xuồng khi sóng táp.
 
 
 
Thanh An: Chúng ta đã nỗ lực hết sức như vậy nhưng rõ ràng vẫn xảy ra những nỗi đau như Gạc Ma 1988. Ông có muốn nói gì về Gạc Ma không?
 
Phó Đô đốc Đỗ Xuân Công: Phải nói thế này để bạn hiểu được quyết tâm của mình cao như thế nào trong trận chiến giữ đảo đó.
 
Cho đến bây giờ, đấy là lần đầu tiên và duy nhất tôi chứng kiến nguyên Ban chỉ huy Bộ Tư lệnh quân chủng trực tiếp vào tận Vùng 4. Chúng ta đã điều động tất cả mọi lực lượng để tham gia giữ đảo. Tư lệnh Đô đốc Giáp Văn Cương, Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Mai Xuân Vĩnh, Phó Tư lệnh chung Hoàng Hữu Thái, Phó Tư lệnh Chính trị Lê Văn Xuân, Phó Tư lệnh Lục quân Phạm Văn Huấn… Tất cả các ông tướng của quân chủng Hải quân lúc đó đều có mặt đầy đủ và xác định phải trùm lên Vùng 4 để chỉ huy trực tiếp.
 
Có chi tiết này tôi phải nói cho rõ ràng. Đã có những thông tin không đúng với chủ trương của Bộ chỉ huy trận về Gạc Ma. Người phát biểu ấy đâu có tham gia trong Bộ chỉ huy chiến dịch đâu. Trong quyển sách của mình, anh ta viết đại ý là có lệnh cho bộ đội lên đảo Gạc Ma không được nổ súng. Vì thế bộ đội khi ra bảo vệ đảo đã không nổ súng và bị Trung Quốc bắn chết mất 64 đồng chí. Điều đó hoàn toàn vô căn cứ. Không đúng sự thật!
 
Chả có người lính nào ra chiến trường lại mang theo lệnh không nổ súng. Bộ đội đã cầm súng trên tay có giặc xâm phạm là bắn thôi chứ. Làm gì có chuyện lệnh không nổ súng ở đây. Nói cho đúng, chủ trương của mình là KHÔNG NỔ SÚNG TRƯỚC.
 
Không nổ súng trước để không gây phức tạp cho nhiệm vụ của mình và gây nguy hiểm cho đại cục. Dù có trực diện đấu tranh, Việt Nam vẫn ưu tiên lựa chọn biện pháp hòa bình, đấu tranh pháp lý để bảo vệ chủ quyền chứ không dùng vũ lực cực đoan. Nhưng một khi địch đã ngang ngược đánh mình thì mình sẽ đánh lại với quyết tâm chiến đấu đến cùng thì thôi. Nhìn vào các trận đánh trong lịch sử, lực lượng và trang bị của mình yếu hơn địch rất nhiều, nhưng hễ địch dám xâm phạm chủ quyền thì quân dân ta chưa bao giờ nao núng.
 
Trận Gạc Ma khi ấy, mình chủ trương cùng một lúc phải giữ cả 3 đảo chìm nằm gần nhau, Cô Lin, Len Đao, và Gạc Ma. Ban chỉ huy mặt trận điều 3 tàu vận tải chở vật liệu ra xây nhà trên 3 đảo chìm này. Lực lượng điều động đi chưa phải là lực lượng chiến đấu mà chủ yếu là công binh xây dựng.
 
Qua quá trình đấu tranh giữa ta và địch tháng 3/1988, ta giữ được hai đảo là Cô Lin và Len Đao. Còn Gạc Ma tạm thời bị Trung Quốc cưỡng chiếm bất hợp pháp.
 

Ngay sau sự kiện Trung Quốc thảm sát 64 cán bộ, chiến sĩ Hải quân Việt Nam thì mình càng thêm quyết tâm phải nhanh chóng nắm giữ, khẳng định chủ quyền các đảo chìm còn lại... Và tốc độ các việc cần làm đã được tiến hành nhanh gấp 3 lần. 

 

(Còn nữa)

 

GỬI Ý KIẾN