1 Cục hàng hải VIệt Nam Vinalines VINASHIN NXB

Nhà thơ, Đại tá Nguyễn Hữu Quý: Bao giờ, trở lại Hoàng Sa

- Ngô Đức Hành

Cùng sống và làm việc tại Hà Nội nhưng tôi ít được gặp nhà thơ Đại tá Nguyễn Hữu Quý. Nhưng về thơ anh, tôi đọc nhiều lần. Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý với tôi còn là gốc Khu 4 cũ, “Hai phía đèo Ngang nặng mối tơ lòng”, (Xuân Diệu), xêm xêm tuổi nhau, đặc biệt, sống đến tầm tuổi này vẫn không dám làm đau chiếc lá. Qua thơ, qua tác phẩm để hiểu người, hiểu anh.


Hôm nay, tiếp tục đọc thơ Nguyễn Hữu Quý, cũng vì biển Đông đang nhiều điều bất ổn mới. Cách đây mấy ngày, Bộ Nông nghiệp và Nông thôn Trung Quốc thông báo áp dụng lệnh cấm đánh bắt cá mùa hè kéo dài 3 tháng rưỡi ở khu vực Biển Đông, trong đó bao gồm một số vùng biển của Việt Nam. Một sự ngang ngược, bất chấp cả pháp lý quốc tế và đạo lý như thường thấy. Từ năm 1999, Trung Quốc bắt đầu đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm ở Biển Đông, bất chấp sự phản đối của nhiều quốc gia trong khu vực.
 

Nhà thơ, Đại tá Nguyễn Hữu Quý
 
Gần đây, Trung Quốc liên tiếp có những hành động khiêu khích tại vùng biển này như ngang ngược lập quận kiểm soát phi pháp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Nước này cũng ngang ngược công bố cái gọi là “danh xưng tiêu chuẩn” của 25 đảo, đá và 55 thực thể địa lý dưới biển ở Biển Đông, trong đó có các thực thể nằm trong quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, thậm chí cả những bãi cạn nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
 
Cách đây hơn 10 năm nhà thơ Nguyễn Hữu Quý có bài thơ “Gọi Hoàng Sa”. Nếu Tổ quốc như Mẹ hiền thì Hoàng Sa được nhà thơ ví như giọt máu, như đứa con. Người Mẹ Tổ quốc vẫn hàng ngày “Gọi/ mỗi ngày/ gọi/ từng đêm”, bởi “Nỗi đau Mẹ/ xót con/ nỗi thương con/ xa Mẹ/ gọi/ giọt máu Tổ Quốc/ bị cắt lìa!”.
 
Từ thời cổ đại đến hiện đại, dân tộc Việt Nam đã xác lập chủ quyền đối với các đảo và bãi đá trên Biển Đông, đặc biệt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bề dày nền văn hóa mà người Việt Nam đã tạo dựng từ ngàn xưa trên Biển Đông, càng chứng minh rõ hơn điều này.
 
Việc xác lập chủ quyền trên Biển Đông của Việt Nam được thực thi một cách liên tục. Vào thời các chúa Nguyễn và Tây Sơn, cứ vào tháng 2 Hải đội Hoàng Sa và Bắc Hải (hoạt động khu vực phía Nam đến tận biển Hà Tiên) lại xuất hành gồm 5 chiến thuyền ra Hoàng Sa, Trường Sa thu nhặt hóa vật của tàu bị nạn, tìm kiếm hải vật và ở lại đây đến tháng 8 mới trở về nộp cho triều đình Phú Xuân (Huế). Từ thời cổ đại đến hiện đại, các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam đã bao phen ngang dọc, chiếm lĩnh và xác lập chủ quyền từ lâu đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bao gồm các đảo và bãi đá Biển Đông. Điều này không còn phải bàn cãi. 
 

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý trong chuyến đi thực tế Trường Sa (4/2019)
 
...
 
Hoàng Sa của ta
 
dấu tích truyền đời
 
từ ngôi mộ có tên, không xương cốt
 
miếu vọng hồn khơi
 
trùng trùng
 
bao thế kỷ
 
dẫu - biết - đi - không - về
 
lòng không nao núng
 
lòng dân
 
vằng vặc trời Nam.
 
Lịch sử đó đã thấm máu biết bao thế hệ: “Ròng/ ròng/ bao linh hồn Việt/ ẩn trong những cánh buồm mây/ từ hàng trăm năm trước/ không chịu tan/ không chịu bay/ gọi/ Hoàng Sa/ chớ ngủ quên dưới bóng cờ xâm lược”. Với nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: “một hạt cát cũng là Tổ Quốc/ một cành san hô cũng là máu cha ông”.
 
...
 
Những con thuyền xuyên thế kỷ
 
bay lên
 
từ đáy thời gian
 
 
 
bão nổi
 
sóng gầm
 
tả tơi
 
ngực biển
 
 
 
dân binh
 
áo vải
 
chân không
 
lựa gió
 
cắt sóng
 
cặp bãi cát vàng
 
đặt
 
mốc non sông
 
Việt!
 
...
 
Đáng tiếc, Hoàng Sa và kể cả một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa - phần “máu thịt” thiêng liêng đó của người Mẹ Việt Nam hiện nay đang bị Trung Quốc và Đài Loan chiếm đóng phi pháp. Vì thế, “Hoàng Sa/ gọi/ lòng ta/ buồn/ thăm thẳm...”
 
“Bao giờ trở lại, Hoàng Sa?”, nhiều câu thơ điệp khúc trong bài thơ “Gọi Hoàng Sa” của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý găm vào lòng nhức buốt.
 
***
 
Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý sinh ra tại Bố Trạch, Quảng Bình, một miền quê nghèo khó. Năm 1974, Nguyễn Hữu Quý xếp bút nghiên lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc, gia nhập Binh đoàn Trường Sơn. Ở cái giai đoạn ác liệt nhất của cuộc chiến, chàng thanh niên tuổi vừa đôi mươi, hàng ngày tận mắt chứng kiến biết bao gian khổ, khó khăn, mất mát, đau thương của quân và dân ta trước tội ác của giặc Mỹ… Viết về Trường Sơn gần như là trách nhiệm của người cầm bút đã gắn bó với anh. Còn nữa, những năm tháng đó đã khảm khắc mãi trong tâm trí anh, tạo nên nhà thơ Nguyễn Hữu Quý luôn mộng tưởng trong những suy nghĩ về cái chết, về số phận chung con người.
 
Trong một lần trả lời phỏng vấn báo Nhân Dân nhà thơ Đại tá Nguyễn Hữu Quý cho biết: “Tôi có 20 năm làm lính Trường Sơn. Đó là khoảng thời gian không ngắn cho tôi nuôi cảm hứng và tích lũy chất liệu để sáng tác về Trường Sơn. Một vùng, miền mà không ít người đã khai thác, đã sáng tác văn thơ trong và sau chiến tranh. Đó chính là thách thức không nhỏ với những người viết về chiến tranh và Trường Sơn như tôi. Trường Sơn trong thơ và trường ca của tôi không còn nhiều cái cụ thể quen thuộc như thời trước nữa mà nó đã được khái quát hóa, biểu tượng hóa, mang vẻ đẹp huyền thoại từ dâng hiến lớn lao. Một Trường Sơn anh hùng và lãng mạn được nối dài thêm sự mất mát, đau thương như là sự thật của cuộc chiến mà dân tộc này đã trải qua đầy máu, mồ hôi, nước mắt. Đó thật sự là Trường Sơn bi tráng, càng tự hào bao nhiêu càng xót buốt bấy nhiêu”.
 

Đại tá, nhà thơ Nguyễn Hữu Quý thăm Trung tâm điều dưỡng thương bệnh binh Thuận Thành (Bắc Ninh).
 
Trong sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Hữu Quý viết rất nhiều về đề tài chiến tranh. Anh đã và đang viết về chiến tranh. Đặc biệt, trong “gia tài” thơ và trường ca của mình,  mảng viết về thương binh, liệt sĩ sâu sắc, xúc động và thành công. Bởi anh đã từng: "Một thời chia lửa chia bom/ Tiếng thơm quyện lấy tiếng thơm, một thời/ Máu truyền cho máu đỏ tươi/ Nuôi nhau từng trận sốt với lá ngàn”. Nguyễn Hữu Quý có cái nhìn nâng niu tình nghĩa đồng chí cùng chiến hào, vào sinh ra tử: “Sống nhường hạt gạo lá rau/ Ngã về đất, hóa đất nâu quây quần/ Chẳng riêng ai ngọn cỏ xuân/ Gieo xanh cành gió, đỡ mầm nắng bay..., (Nén nhang đồng đội).
 
Nguyễn Hữu Quý dành tình cảm rất lớn cho những người lính mãi nằm yên cùng non nước; sự tri ân sâu sắc những người mẹ, người vợ, người con của liệt sĩ. Vì vậy dường như trang viết nào của anh cũng in đậm dấu ấn Trường Sơn. Sự mất mát của chiến tranh hằn lên trong thơ anh như một vết xước. "Mười nghìn Trường Sơn trong một Trường Sơn/ Mười nghìn lời ca trong bài ca lớn/ Mười nghìn cái tên đêm đêm mẹ nhắc/ Mười nghìn giấc mơ của mẹ chờ ta/ Mười nghìn con đò thương về bến đợi/ Mười nghìn hạt giống chưa về phù sa..." (Khát vọng Trường Sơn). Những câu thơ thật rung động và lắng lòng ở chiều sâu những góc khuất. 
 
 
“Gieo xanh cành gió, đỡ mầm nắng bay", thơ Nguyễn Hữu Quý.
 
Ngày thắng lợi, rất nhiều người lính không trở về đoàn viên. Họ đã hy sinh, nhờ sự hy sinh của họ mà đất nước nở hoa. Dẫu máu xương đã hòa quện vào lòng đất thì vẫn “gieo xanh cành gió, đỡ mầm nắng bay”. Nguyễn Hữu Quý luôn luôn nghĩ về đồng đội còn nằm lại đâu đó trên nẻo đường hành quân, chiến trường lửa đạn, đau đáu về những vấn đề hậu chiến tranh. Anh luôn luôn trăn trở, nặng lòng, dẫu đất nước thống nhất đã 45 năm:
 
Dưới cỏ, làm chi còn chiến trận
 
Súng ống gỉ mòn, xương cốt tan
 
Khói hương, Mẹ thắp, trôi chầm chậm
 
Một dáng lưng còng, một thở than...
 
(Thơ đề ở Thành cô Quảng Trị)
 
Chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ nhưng còn nhiều lắm điều phải suy nghĩ. Nhìn vào đâu nhà thơ cũng thấy cần lời đáp. Đó cũng là trách nhiệm với người ngã xuống, trách nhiệm của một thi sỹ:
 
Kêu sớm, kêu chiều, kêu cả hoàng hôn
 
Kêu bồ đề xanh, kêu tượng đài trắng
 
Kêu buốt lá kim trên cây mọc thẳng
 
Tiếng kêu nhức nhức Trường Sơn
 
(Tiếng ve ở Nghĩa trang Trường Sơn).
 

Nguyễn Hữu Quý đã và đang viết về hôm qua, trước hết là trách nhiệm tri ân, thúc hối tự tâm người sống trân quý giá trị và nặng nghĩa. Hơn thế, viết về hôm qua vì những điều tốt đẹp của hôm nay và ngày mai. 

GỬI Ý KIẾN