1 Cục hàng hải VIệt Nam Vinalines VINASHIN NXB

Định hướng chiến lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới

- PGS. TS KHQS Trần Nam Chuân*

Biển, đảo của Tổ quốc, chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Địa bàn vùng biển, hải đảo có vị trí địa chiến lược đặc biệt quan trọng, là “tuyến đầu”, “cửa ngõ”, là bức tường thành vững chắc của mỗi quốc gia, dân tộc.


Chủ quyền, quyền chủ quyền an ninh trên biển, đảo là một bộ phận quan trọng không thể tách rời của an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc. Một quốc gia có vùng biển, vùng trời hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự vững mạnh của chế độ, của dân tộc.
 

Ảnh minh họa. Nguồn: internet
 
Nhận thức rõ vị trí địa chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh của biển, đảo nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ), Đảng và Nhà nước đã sớm quan tâm tới việc quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giải quyết tranh chấp trên biển và phát triển kinh tế biển. Ngay sau ngày hòa bình lập lại (1954), Đảng và Nhà nước ta đã tập trung mọi nguồn lực để bảo vệ chủ quyền vùng biển, hải đảo và khai thác tài nguyên biển. Đánh giá về vị trí, vai trò của biển, đảo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “… Biển của ta rất giàu và đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”. Trước khi kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, Đảng và Nhà nước ta đã có quyết định lịch sử: giải phóng quần đảo Trường Sa, giữ vững thế đứng của Việt Nam trên biển Đông. Sau khi đất nước thống nhất, ngày 12/5/1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Tuyên bố về các vùng biển, đảo Việt Nam. Đây là một trong những tuyên bố sớm nhất ở khu vực Đông Nam Á. Từ tuyên bố lịch sử đó, ngày 12/11/1982, Chính phủ ra Tuyên bố về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam, mở đầu một trang mới trong lịch sử tiến ra biển, thực hiện chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nước ta trên biển. Nghị quyết Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 5 phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 thể hiện rõ: “lập trường trước sau như một của Chính phủ khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các tranh chấp khác liên quan đến biển Đông thông qua thương lượng hòa bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982”.
 
Việt Nam có ranh giới vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa chung với hầu hết các nước xung quanh biển Đông, đặc biệt là Trung Quốc và Campuchia. Hiện nay, trên biển Việt Nam còn bốn vấn đề lớn liên quan đến chủ quyền lãnh thổ cần phải giải quyết, đó là: bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa; bảo vệ chủ quyền và giải quyết hòa bình tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa giữa các nước, gồm Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia, Philippin, Đài Loan (Trung Quốc); phân định ranh giới các vùng biển theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và xác định ranh giới ngoài của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
 
Tranh chấp chủ quyền biển, đảo ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế biển của Việt Nam theo nhiều khía cạnh. Vấn đề quan trọng nhất là phải giải quyết các bất đồng, tranh chấp trên biển thông qua biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, tăng cường quan hệ láng giềng hữu nghị giữa các nước nhằm bảo đảm môi trường hòa bình để phát triển. Để bảo đảm chủ quyền biển, đảo và lợi ích quốc gia trên biển của nước ta trong tình hình hiện nay, một mặt, cần không ngừng nâng cao năng lực quản lý nhà nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, thăm dò, khai thác, nuôi trồng và bảo vệ tài nguyên môi trường biển, phát triển hệ thống giao thông đường biển; mặt khác, phải tích cực đối thoại với các bên liên quan, tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị và đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tìm kiếm các giải pháp cơ bản và lâu dài mà các bên đều có thể chấp nhận được.
 
Việc giải quyết tranh chấp, giữ gìn hòa bình và ổn định, đẩy mạnh phát triển kinh tế biển trên biển Đông cần dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về Quy tắc ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC). Các nước có liên quan cần tôn trọng các quyền và lợi ích chính đáng của mỗi nước được quy định trong Công ước quốc tế và Luật Biển năm 1982 để giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực; các nước trong khu vực đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương giữa các nước có liên quan nhằm xây dựng lòng tin, tăng cường quan hệ hữu nghị, sử dụng, khai thác biển và bảo vệ môi trường biển một cách hiệu quả.
 
Những nhân tố gây mất ổn định, xâm phạm chủ quyền, an ninh vùng biển, đảo Việt Nam hiện đang diễn ra gay gắt; nguy cơ xung đột vũ trang, tranh chấp trên biển, đảo và thềm lục địa của nước ta vẫn chưa được loại trừ. Những hành động nguy hiểm như làm biến dạng một số hòn đảo, quân sự hóa các đảo đã chiếm đóng trái phép của Việt Nam… đã và đang đe dọa trực tiếp đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ở biển Đông.
 
Để góp phần giữ vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội ở những khu vực trọng điểm, đặc biệt là trên vùng biển, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, trong hợp tác quốc tế giải quyết các vấn đề về chủ quyền, quyền chủ quyền và bảo đảm an ninh trên biển, đảo cần thực hiện một số giải pháp chiến lược sau:
 
Một là, phải nắm vững luật pháp quốc tế, đường lối, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong giải quyết các vấn đề về biên giới, lãnh thổ. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Thúc đẩy các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực; làm tốt công tác quản lý biển, đảo, biên giới, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển”(1). Đây là quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, là định hướng cho các cấp, các ngành, các lực lượng quán triệt và thực hiện trong quá trình giải quyết các vấn đề về biên giới, vùng biển với các nước láng giềng, khu vực. Để giải quyết vấn đề biên giới với các nước trong khu vực, phải dựa trên các nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế và đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta để thỏa thuận với các nước liên quan về những nguyên tắc cụ thể, nhằm tìm ra giải pháp cơ bản, hài hòa và hợp lý. Phải căn cứ vào Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về Quy tắc ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) để đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thông qua đàm phán giải quyết, xây dựng đường biên giới ổn định lâu dài.
 
Hợp tác quốc tế giải quyết biên giới, lãnh thổ là một vấn đề lớn, liên quan đến nhiều vấn đề về chủ quyền an ninh của quốc gia. Do đó, trong quá trình đàm phán quốc tế giải quyết các tranh chấp trên biển phải luôn nắm vững nguyên tắc tối cao là sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không được thỏa hiệp, nhân nhượng vô nguyên tắc, phải nắm vững tài liệu, nguồn gốc lịch sử, phải biết về quản lý thực tế, hiểu biết nghệ thuật đàm phán.
 
Quá trình đàm phán về lãnh thổ biên giới với Trung Quốc và các nước phải có sự chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương Đảng, Chính phủ, đề cao trách nhiệm của đoàn đàm phán, phát huy dân chủ, lắng nghe ý kiến của các chuyên gia về biên giới, biển, đảo và các ngành chủ quản, học tập kinh nghiệm quốc tế, không chủ quan áp đặt. Ngăn chặn các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch gây chia rẽ quan hệ truyền thống giữa nước ta với các nước láng giềng và làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; ảnh hưởng đến quá trình đàm phán.
 
Hai là, phải quán triệt mục tiêu, nguyên tắc, phương châm trong giải quyết các vấn đề về biên giới, vùng biển, đảo với các nước có liên quan, đặc biệt là với Trung Quốc. Giải quyết các vấn đề về biên giới, vùng biển là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, rất căng thẳng do đụng chạm đến lợi ích của các quốc gia. Vì vậy, quá trình giải quyết các vấn đề có liên quan đến lãnh thổ, biển đảo, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế,… phải bảo đảm các mục tiêu: giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, bởi đó là vấn đề thiêng liêng của mỗi quốc gia, dân tộc; đồng thời là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Ngày nay, khái niệm về chủ quyền quốc gia có nội dung lớn hơn, bao gồm nhiều lĩnh vực như: chủ quyền về lãnh thổ, biển đảo, biên giới, kinh tế, chính trị, đối nội, đối ngoại… Quá trình giải quyết các vấn đề về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển thường gắn liền và đan xen trong các quan hệ chính trị, kinh tế, quốc phòng-an ninh, đối ngoại. Đó là quá trình vừa đấu tranh quyết liệt, vừa thương lượng, thỏa thuận, chiếu cố lẫn nhau, nhưng trên cơ sở luật pháp quốc tế. Giữ được mối quan hệ hữu nghị với nước láng giềng là truyền thống của dân tộc, là mong muốn của nhân dân ta, đồng thời là yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước hiện nay, là xu thế chung của thời đại.
 
Để xây dựng và phát triển đất nước, phải tiếp tục củng cố, xây dựng biên giới, vùng biển, vùng trời hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài nhằm tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Đồng thời, loại bỏ những sơ hở, những điều kiện mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng vấn đề biên giới, lãnh thổ, chủ quyền trên vùng biển để tạo cớ can thiệp, gây mất ổn định tình hình đất nước. Vì vậy, trong quan hệ quốc tế, đặc biệt với các nước láng giềng và các nước trong khu vực, các cấp, các ngành và mỗi người dân cần quán triệt tốt mục tiêu, yêu cầu này; tránh xung đột, đối đầu, gây căng thẳng làm ảnh hưởng xấu đến quan hệ chung.
 
Ba là, cần xác định nội dung giải quyết các vấn đề về biển và vùng đặc quyền kinh tế trên biển phù hợp với từng nước trong từng giai đoạn. Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng gần gũi. Từ lâu hai nước đã có mối quan hệ hữu nghị truyền thống, có chung đường biên giới trên đất liền và trên biển. Tuyến biên giới trên biển đã được xác định rõ chủ quyền hải đảo và thềm lục địa phân định đường biên giới lãnh hải, ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Tuy nhiên, trên vùng biển, hải đảo còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ tranh chấp vì những lợi ích kinh tế, chính trị, an ninh khác nhau giữa các quốc gia trong khu vực. Vì vậy, cần tiếp tục đàm phán với các nước láng giềng có liên quan nói chung, với Trung Quốc nói riêng để giải quyết ranh giới trên biển, tìm ra những giải pháp gìn giữ hoà bình, ổn định trên vùng biển, thềm lục địa của Việt Nam.
 
Trên cơ sở các hiệp định đã ký kết với các nước ASEAN và Trung Quốc, chủ động phối hợp với lực lượng bảo vệ biển, hải đảo của nước láng giềng để tiến hành các hoạt động quản lý, kiểm soát, bảo vệ biển, đảo. Thông qua cơ chế phối hợp đã thoả thuận và công tác đối ngoại để phát hiện giải quyết những vấn đề nảy sinh, không để xảy ra tranh chấp, xung đột trên biển làm phức tạp thêm tình hình và gây căng thẳng trên các vùng biển thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của ta.
 
Trong khuôn khổ luật pháp Việt Nam, các lực lượng chức năng hoạt động trên các vùng biển, đảo cần có thái độ, trách nhiệm kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với những hành vi xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, đồng thời quan hệ tốt với các lực lượng tương ứng của các nước láng giềng (ASEAN), thỏa thuận hợp tác về những vấn đề còn tồn tại, tranh chấp, không để xảy ra xung đột vũ trang. Các cấp, các ngành, các lĩnh vực của nước ta phải có sự phối hợp đồng bộ trong quan hệ hợp tác với ASEAN và cộng đồng quốc tế.
 
Bốn là, tiếp tục xây dựng, củng cố mối quan hệ phối hợp giải quyết các vấn đề còn tồn tại trên các vùng biển, đảo với các nước. Ngày nay, quan hệ quốc tế liên tục được mở rộng, phát triển đa phương, đa dạng trên nhiều lĩnh vực. Lợi ích quốc gia thường đan xen trong các quan hệ đó. Vì vậy, phải tranh thủ mọi quan hệ, mọi thời cơ, điều kiện thuận lợi để xúc tiến và thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề về biên giới, lãnh thổ, biển, hải đảo. Trong quan hệ với các nước cần phát huy yếu tố tương đồng, nhu cầu về sự ổn định phát triển của mỗi nước để thương lượng, nhân nhượng lẫn nhau. Theo đó, với Trung Quốc cần dựa vào Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về Quy tắc ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC). Đồng thời, phải dựa trên các nguyên tắc chung của luật pháp, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta để đấu tranh yêu cầu Trung Quốc phải thực hiện các điều khoản của Công ước quốc tế và thỏa thuận đã ký kết với các nước ASEAN.
 
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, tập trung thống nhất. Các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang phải làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban ngành trong công tác đối ngoại. Tăng cường trao đổi, hiệp đồng với các lực lượng quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh trên các vùng biển, hải đảo và chính quyền địa phương các nước láng giềng trên cơ sở các hiệp định, hiệp nghị, quy chế, thỏa thuận đã được ký kết giữa các bên để tuyên truyền phát triển quan hệ hữu nghị, chủ động gặp gỡ giải quyết các vấn đề phức tạp xảy ra trên vùng biển, đảo, không để căng thẳng xung đột kéo dài; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại nhân dân, tạo môi trường ổn định. Làm tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng giúp cho các lực lượng đứng chân trên biển nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đối ngoại, nắm vững nội dung, phương châm, nguyên tắc, quy trình, phương pháp tiến hành công tác đối ngoại; đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, pháp luật của Nhà nước và luật pháp quốc tế. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân và các ngành có liên quan đang hoạt động trên các vùng biển, đảo về ý thức bảo vệ độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc, khắc phục tình trạng cục bộ, tùy tiện trong quan hệ với các nước làm phương hại đến chủ quyền lợi ích quốc gia. Tiếp tục chấn chỉnh đưa công tác đối ngoại quốc phòng - an ninh vào nền nếp, đạt hiệu quả. Tùy tình hình trên từng tuyến biên giới, biển, đảo để có hướng dẫn, chỉ đạo kịp thời, sát thực tế về công tác đối ngoại, đảm bảo lưu thông hàng hóa trên biển và hàng không, phục vụ hội nhập quốc tế. Tích cực tham mưu đề xuất với Đảng, Nhà nước, Quốc hội các giải pháp thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ có ý nghĩa lịch sử bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; ký Nghị định thư bổ sung Hiệp định nghề cá với Trung Quốc, thúc đẩy quá trình đàm phán giải quyết vấn đề về vùng biển giữa Việt Nam - Trung Quốc,... để từng bước ổn định lâu dài.
 
Hợp tác quốc phòng - an ninh giải quyết các vấn đề nảy sinh trên biên giới, vùng trời, vùng biển, đảo là một nội dung quan trọng của công tác đối ngoại quốc phòng - an ninh quốc gia nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định, xây dựng vùng biển, hải đảo hoà bình, hữu nghị với các nước láng giềng và khu vực, góp phần tăng cường hiệu quả quản lý, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia và quyền tài phán trên biển trong tình hình mới.
 
* Viện Chiến lược Quốc phòng
 
Ghi chú:
 
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr. 237.

GỬI Ý KIẾN