1 Cục hàng hải VIệt Nam Vinalines VINASHIN NXB

Nhân Trung thu, nói chuyện thơ về trăng trong thơ Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử

- Dân Trảo Nha

Trăng - đi vào tác phẩm của nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như là hình ảnh, thi ảnh vừa lãng mạn vừa ngọt ngào. Có lẽ không có nhà thơ và tác giả thơ nào chưa viết về trăng?


 
Nếu như vật chất có thể mất đi thì ngược lại áng văn thơ về trăng thì luôn bất tử trong lòng người hâm mộ thơ. Hình ảnh ánh trăng sáng ngời soi sáng màn đêm đen là nguồn cảm hứng bất tận để các nhà văn nhà thơ lưu lại cảm xúc của mình. Hình ảnh về trăng được cảm nhận tùy theo tâm trạng cũng như nguồn cảm xúc của mỗi tác giả, và cảm nhận của bạn đọc.
 
Trong số các các giả Việt Nam có lẽ người thành công nhất khi viết về trăng là: Hồ Chí Minh, Hàn Mặc Tử và "Ông hoàng thơ tình" Xuân Diệu.
 
Nếu như Hồ Chí Minh có 03 bài về trăng độc đáo, Hàn Mặc Tử là thi sỹ "buôn trăng": "Ai mua trăng tôi bán trăng cho" thì Xuân Diệu là nhà thơ có nhiều bài về trăng, trăng ngập tràn trong thơ Xuân Diệu và ông quan sát trăng cũng tinh tế có một không hai: "Trăng khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn" - phải gọi đây là 1 câu thơ thần trong các câu thơ thần của ông. 
 
TRĂNG CỦA XUÂN DIỆU
 
Xuân Diệu viết khá nhiều về trăng, chỉ riêng trong Thơ ThơGửi Hương Cho Gió đã đề cập đến trăng trong những bài: Trăng, Huyền diệu, Nhị hồ, Ðây mùa thu tới, Với bàn tay ấy, Thở than, Ca tụng, Nguyệt cầm, Buồn trăng, Lời kỹ nữ, Bài thứ năm, Bụi mưa mờ cũ, Sương mờ, Huyền ảo, Cảm xúc, Vội vã. Ngoài ra cón nào "Hoa đêm", nào "Thân thể"...
 
Trăng của Xuân Diệu có khi mơ mộng :
 
Trăng vừa đủ sáng để gây mơ 
(Nhị hồ)
 
gợi nhớ nhung, tương tư :
 
Sương nương theo trăng ngừng lưng trời 
Tương tư nâng lòng lên khơi vơi. 
(Nhị hồ)
 
Dưới trăng, lòng người có khi "buông thả":
 
Nếu hương đêm say dậy với trăng rầm, 
Sao lại trách người thơ tình lơi lả? 
(Cảm xúc)
 
"Trăng lồng bóng nước" dưới mắt Xuân Diệu có lúc là trăng khỏa thân:"Bởi vì trăng cũng thở những ý nghĩ điếm đàng và trên nước chóa vàng tợ hồ một thân thể đang tắm".
 
Người ta thường nôm na ví mặt trăng tròn với cái đĩa, thi nhân lại thây nó giống bộ ngực khêu gợi của thiếu nữ :
 
Trăng vú mộng đã muôn đời thi sĩ 
Giơ hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy.
(Ca tụng)
 
Song trăng mô tả trên đây không thực là "trăng của Xuân Diệu", những cảm tác đó là cảm tác chung của các thi nhân."Trăng của Xuân Diệu" có bản sắc riêng, luôn luôn tràn đầy, tràn ngập :
 
Trong vườn đêm ấy nhiểu trăng quá, 
Ánh sáng tuôn đầy các lối đi 
(Trăng)
 
Trong khi ánh trăng lai láng khiến Thúc Tề cảm thấy xuân tình rộn rã :
 
Lai láng niềm trăng tuôn dạ nước, 
Ngập tràn sông trắng, gợn bâng khuâng, 
Hương trăng quấn quýt hơi sương ướt, 
Ngân dội lời tình điệu hát xuân. 
(Trăng mơ)
 
thì ngược lại, ánh trăng huy hoàng, tràn lan chỉ gây cho Xuân Diệu cảm giác lạnh lẽo, buốt giá:
 
Trăng thu thường thấy trắng phau, 
Ấy mầu của tuyết, ấy mầu của băng. 
Lạnh thay là cảnh cô Hằng, 
Lạnh trong cung lạnh, trong trăng lạnh lùng
(Bụi mưa mờ cũ)
 
Dưới ánh trăng lạnh lẽo và lặng lẽ, con người càng thấm thía niềm cô tịch:
 
Chỉ biển trời xanh, chẳng bến trời, 
Mắt nhìn thêm gợn ánh khơi vơi, 
Trăng ngà lặng lẽ như buông tuyết, 
Trong suốt không gian tịch mịch đời. 
(Buồn trăng)
 
Trong khung cảnh tịch mịch dưới biển trăng trong vắt, tiếng nhạc trỗi dậy gây cho ta cảm giác rờn rợn, thấy mình quá bẻ nhỏ, bơ vơ giữa đất trời bao la :
 
Bốn bề ánh nhạc biển pha lê, 
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề, 
Sương bạc làm thunh, khuya nín thở, 
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê. 
(Nguyệt cầm)
 
Người kỹ nữ sợ hãi ánh trăng mênh mông:
 
Em sợ lám, giá băng tràn mọi nẻo 
Trời đấy trăng, lạnh lẽo suốt xương da. 
(Lời kỹ nữ)
 
Nàng sợ mình phải đối bóng mình: Chớ để riêng em phải gập lòng em và khẩn cầu sự hiện diện của một người mong đem lại chút tình ấm áp, dù người ấy chỉ là một khách làng chơi :
 
Khách ở lại cùng em trong chốc đã, 
Vội vàng chi, trăng sáng quá khách ơi. 
Ðêm nay rầm yến tiệc sáng trên trời, 
Khách không ở lòng em cô độc quá. 
(Lời kỷ nữ)
 
Lời khẩn cầu thật tha thiết song nàng cũng thừa biết là vô vọng : Tình du khách thuyền qua không buộc chặt.
 
Không phải chỉ nàng kỹ nữ bị xã hội khinh rẻ mới cảm thấy cô đơn dưới ánh trăng chói ngời, tình yêu thắm thiết của lứa đôi cũng không ngăn nổi cảm giác "bơ vơ" của thân phận con người :
 
Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá, 
Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ ! 
(Trăng)
 
 
TRĂNG CỦA HÀN MẶC TỬ
 
Cũng như Xuân Diệu, không phải trăng của Hàn Mạc Tử không có những lúc mơ mộng :
 
Cùng trăng sao bàng bạc xứ Say Mơ 
(Trườrg tương tư)
 
Nhưng khác Xuân Diệu ở chỗ trăng của Hàn không gợi cảnh yêu đương, thương nhớ... mà thường nhắc nhở những hình ảnh tan vỡ, chia ly :
 
Mộng uyên ương khi trăng sao bàng bạc, 
Biến mất rồi, anh thấy khói hương tan. 
(Khói hương tan)
 
và những tư tưởng chán chường :
 
Trăng ! Trăng ! Trăng ! Là trăng ! Trăng ! Trăng ! 
Ai mua tôi bán trăng cho, 
Không bán đoàn viên, ước hẹn hò 
(Trăng vàng trăng ngọc)
 
hoặc cay đắng :
 
Cách nhau ngàn vạn dậm, 
Nhớ chi đến trăng thề 
(Tình quê)
 
Trăng của Hàn Mạc Tử có ba đặc điểm :
 
1- Nổi bật là bị tình dục ám ảnh
 
Ngay từ 1931, trăng của Hàn đã mang những hình ảnh khêu gợi rõ rệt:
 
Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối, 
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn. (Thức khuya)
 
Tập Gái Quê (1936) đầy rẫy những bức tranh phô bầy lộ liễu:
 
Trăng sóng soãi nằm trên cành liễu, 
Ðợi gió Ðông về để lả lơi. 
(...) Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm, 
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe. (Bẽn lẽn)
 
Trăng của Xuân Diệu cũng "tắm", cũng "lả lơi", cũng "điếm đàng" nhưng Xuân Diệu diễn tả kín đáo, ngòi bút Hàn Mạc Tử phóng túng :
 
Bóng Hằng trong chén ngả nghiêng, 
Lả lơi tắm mát, làm duyên gợi tình 
(Uống trăng)
 
Bị ám ảnh về tình dục, nhìn đâu thi sĩ cũng thấy những hình ảnh khêu gợi: hết trăng "rờ rẫm", "trăng nằm sóng soãi" đến "trăng ôm" :
 
Tiếng vàng rơi xuống giếng, 
Trăng vàng ôm bờ ao. 
(Ngủ với trăng)
 
Hết "ngủ với trăng" lại đến nhìn "trăng ngủ" :
 
Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ, 
Ðầy mình lốm đốm những hào quang. 
(Ngủ với trăng)
 
Khi bị bệnh tật hành hạ, hình ảnh trăng biến dạng trở nên dữ dội, tàn bạo:
 
Gió rít từng cao trăng ngã ngửa, 
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô. 
(Say trăng)
 
Trăng không gây cảm giác rờn rợn như Xuân Diệu, chính thi nhân điên cuồng, gào thét cho người khác "rởn ốc":
 
Cùng ngả nghiêng lăn lộn giữa muôn hình, 
Ðể gào thét một hơi cho rởn ốc, 
Là Thiên đường, Trần gian và Ðịa ngục. 
(Hồn là ai?)
 
2- Thời kỳ của Thơ Ðiên tức Ðau Thương
 
Trong Gái Quê, mảnh trăng lưỡi liềm chỉ khiến thi sĩ bực dọc muốn "chặt khóm thùy dương nghiêng ngả trước gió chiều lơi lả" và "chặt hồn ta dứt nỗi niềm" nhưng khi bệnh hoạn dầy vò, thi nhân thấy trăng lưỡi liềm là trăng đã... bị "cắn" :
 
Hôm nay có một nửa trăng thôi, 
Một nửa kia ai cắn vỡ rồi. 
(Em nhớ mình xa)
 
Ðau khổ gây những ảo giác quái dị được thi nhân ký thác vào thơ:
 
Cả miệng ta là trăng, là trăng, trăng, 
Cả hồn ta vô số gái hồng nhan, 
Ta nhả ra đây một nàng... 
(Một miệng trăng)
 
Thời kỳ bệnh hoạn, thần trí thác loạn, thi sĩ viết huyên thiên, không mạch lạc, chỉ cốt diễn đạt những cảm xúc hay đây là một cuộc thí nghiệm đi tìm một vẻ đẹp lạ kỳ ? Hàn Mạc Tử viết : "Tôi làm thơ ? Nghĩa là tôi yếu đuối quá. Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật. Và cũng có nghĩa là tôi mất trí, tôi phát điên (...) Trong thời kỳ ấy óc mở ra rất mau, các tế bào trong não đều sinh sản thêm, dắt linh cảm người đến một vườn tư tưởng cao siêu lạ, và vì thế những bài thơ tân kỳ có dịp ra đời, nó ở ngoài mức trình độ hiểu biết của người thường, vì thế, người ta đọc thơ là không hiểu".
 
Chúng ta thấy Thơ Ðiên không có mạch lạc, tựa như những hình ảnh trong chiêm bao liên tiếp hiện ra, biến đi tất nhanh, nó có cái "lõ-gích" của riêng nó mà ta đã chấp nhận dễ dàng trong giâc mơ. Có những hình ảnh đẹp đẽ, có những hình ảnh kỳ quái... Tuy vậy những hình ảnh ấy đều ít nhiều, xa gần, phản ánh sự thực :
 
Ngưòi trăng ăn vận toàn trăng cả, 
Gò má riêng thôi lại đỏ hườm. 
(Say trăng)
 
Theo gia đình và bè bạn thì cả những lúc bệnh nặng nhất, mặt mũi thi sĩ cũng không bị quá biến dạng, chỉ có gò má mang vết đỏ mà thôi.
 
3- Hòa nhập với vũ trụ - Xuân Diệu cảm thấy giá buốt, cô đơn dưới ánh trăng chói sáng, trăng của Hàn Mạc Tử không sáng mà cũng khiến thi sĩ thấm thía cái cảnh lạnh lẽo, đơn chiếc :
 
Trăng lạnh quá, ánh trăng không sáng mấy, 
Cho nên chăn chiếu vẫn so le. 
(Thao thức)
 
Tuy nhiên, ánh trăng sáng lòa lại không làm cho Hàn Mạc Tử sợ hãi, thấy mình bé nhỏ trước vũ trụ bao la, trái lại, trăng tràn ngập, chói ngời khiến Hàn quên hẳn mình đi :"Say sưa và ngây ngất vì ánh sáng, hai chị em như đê mê, không còn biết là có mình và nhận mình là ai nữa".
 
Ranh giới giữa người và người cũng xóa sạch :
 
Không gian đầy đặc toàn trăng cả, 
Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng. 
(Huyền ảo)
 
Thi sĩ thoát xác, hòa nhập với vũ trụ :
 
Ta bay lên ! Ta bay lên ! 
Gió tiễn đưa ta tới nguyệt thiềm, 
Ta ở côi cao nhìn trở xuống, 
Lâng lâng mây khói quyện trăng đêm
 
Xuân Diệu đi từ ngoại cảnh vào nội tâm, nhận rõ sự nhỏ nhoi bất lực của con người trước vũ trụ, người và vũ trụ là hai cá thể riêng biệt, không thông cảm nhau, hầu như đối nghịch nhau, khi trăng được nhân cách hóa, ra vẻ thông cảm với con người, ấy là lúc Xuân Diệu "làm duyên". Trong cốt tủy, trăng của Xuân Diệu là trăng phi nhân. Ðôi lứa yêu nhau tha thiết đến thế mà vẫn cảm thấy "chẳng bớt bơ vơ", trăng không giúp họ gần nhau hơn :
 
Sau giờ lặng lẽ nghe chung một, 
Lại có riêng mình, lại có ta. 
(Tình cờ - Gửi hương cho gió)
 
Trăng phi nhân nhưng vẫn là "ông trăng" quen thuộc của chúng ta, gần chúng ta hơn.
 
Hàn Mạc Tử cũng đi từ ngoại cảnh vào nội tâm rồi lại đem nội tâm trút lên ngoại cảnh, hòa đồng với vũ trụ. Trăng trong Thơ Ðiên dẫn thi sĩ đi vào một thế giới xa lạ, kỳ dị, bỏ ta lạc lõng, bỡ ngỡ đằng sau. Những hình ảnh thác loạn đã được thi sĩ thăng hoa, tạo ra những thi phẩm tân kỳ, đưa ta tới những cảnh giới lạ lùng, khó hiểu. đòi hỏi người đọc phải quên cách thưởng thức thông thường của lý trí, đón nhận những vần thơ kỳ lạ trước khi tìm hiểu ý nghĩa của nó. Chế Lan Viên viết :"Ý thức tôi còn chưa hiểu được thì tiềm thức tôi đã cảm được, chấp nhận, thông qua" .
 

20/9/18 

GỬI Ý KIẾN