1 Cục hàng hải VIệt Nam Vinalines VINASHIN NXB

Hoa muối biển - Truyện ngắn

- Nguyễn Thu Hằng

Thản cất bước. Gió từ rặng phi lao thổi qua mặt Thản, mang theo vị mặn mòi của biển, cả mùi hăng hắc, thơm thơm. Quay lại phía sau, cô chợt nhìn thấy ở ngay lưng chừng sườn núi có một cây hoa muối biển như mọc ra từ khẽ đá, đang trổ những bông hoa li ti trắng ngần.


Không ngờ Thản gặp lại Biền ngay trên bãi biển Sầm Sơn.

 
Đúng lúc chồng cô, Vững vừa nằm úp xuống manh chiếu đợi người tẩm quất. Người tẩm quất ngẩng lên, bước đi hơi thậm thọt lấy ghế mời Thản ngồi ăn hà nướng chờ chồng, Thản nhận ra Biền. Mắt Thản chớp liên hồi. Đúng là Biền. Dù trời không trăng nhưng ánh sáng hắt xuống từ những ngọn đèn nhấp nháy trên cột điện, từ các tòa nhà cao tầng, những cửa hiệu, ánh sáng của những vì sao tít trên cao đã giúp Thản nhận ra Biền. Vẫn đôi mắt thăm thẳm dù đã mọc nhiều vết chân chim, cuối đuôi mắt trái có một vết sẹo dài, làn da Biền đã xạm màu nắng gió.
 
Đôi bàn tay chai sần như gốc cây đang cần mẫn miết lên lưng Vững. Biền chăm chú vào các động tác đã thuần thục của mình. Nét mặt bình thản như con sóng xô bờ cát.
 
Chắc chắn là Biền chứ không phải ai khác. Đôi mắt, vết sẹo và bước chân kia làm sao Thản có thể quên. Nhưng Biền lại không hề có dấu hiệu nhận ra Thản.
 
Thản thấy khô đặc cuống họng, da mặt bì bì tê tê, cô lặng lẽ quay mặt hướng ra ngoài biển, uống vội ngụm nước lọc. Chợt làn gió mạnh từ ngoài khơi thổi xộc vào, cát bị cuốn lên bay mù mịt, vài hạt đã chui vào mũi Thản lọt xuống cổ họng, mặn chát.
 
Cứ như là lốc vậy? Vững hỏi.
 
Gió biển thôi, mỗi đêm chừng một hai cơn như thế. Rồi lại đâu vào đấy. Có hạt cát nào bay vào mắt bác không?
 
Không. Tôi đang nhắm mắt thư giãn mà. Bác làm nghề này lâu chưa?
 
Dạ chừng ba năm nay rồi. Từ khi em thôi đi biển.
 
Còn thằng bé nướng hà này?
 
Nó là con trai em. Chú nó có thuyền nhỏ đi biển thỉnh thoảng cũng cho nó theo. Nhưng dịp này đi biển khan cá, nó nghỉ ở nhà cắp chiếu theo em học đánh tẩm quất. Thằng bé nướng hà kéo lắm, chốc xong bác sẽ được thưởng thức.
 
Sao ông bên cạnh kia vừa nằm cùng với tôi đã thôi rồi nhỉ?
 
Có lẽ ông ấy chỉ tiểu quất, cạo gió, bão đầu, tàu nhanh, giá mềm. Chẳng mấy khi ra biển, em phải đại quất cho bác thì mới cảm thấy hết cái thú tẩm quất trên biển. Nếu chỉ có kiến bò, mổ cò, nhổ bão thì cần gì ra biển, em đang cào cào đá móc đấy, rồi sẽ tới cóc nhảy song phi, ngựa phi nước đại, vác cày giữa đường. Lưng bác tha hồ mà hả hê.
 
Những ngón tay Biền chụm hình con cào cào đá tanh tách trên lưng Vững. Hà nướng đã bắt than tỏa mùi mằn mặn. Thản xô ghế đứng dậy đi vội vã xuống mép sóng.
 
 
Xóm vạn chài mùa sóng lên, hoa sóng tung trắng xóa vờn lên tới những mỏn đá. Rặng phi lao trên sườn núi Trường Lệ, cùng với hoa muối biển đã từng ám ảnh trong những giấc mơ của Thản. Những thân cây như được đẻ ra từ đá, khẳng khiu, khô cằn, mốc thếch, quanh năm nở hoa trắng, cánh li ti như hạt muối đậu lên nhau, có vị hăng hắc, thơm thơm, cho vào miệng nhai mằn mặn. Chẳng biết tên hoa là gì, bọn Thản đặt tên cho là hoa muối biển để gọi cho dễ. Nếu có tìm thấy chùm sung, chùm ngái nào thì bao giờ cũng phải chạy đi ngắt hoa muối biển để làm gia vị ăn kèm, vị hơi đăng đắng, đườm đượm, bùi bùi.
 
Mỗi giờ tan học, tụi học trò thường leo lên núi tìm hoa và ngặt quả. Thản thích lên đó còn để đứng hát hò cùng những rặng phi lao rì rầm đệm đàn. Lau lách, cỏ dại, đá, cát, đất... Lần lên hòn Trống Mái ngồi chơi đồ hàng, chơi chán thì ngồi đếm trứng đá, đếm chán thì lại hùa nhau chơi trốn tìm. Bữa ấy, Biền bịt mắt, Thản đi trốn. Tìm khắp nơi chẳng thấy đâu, cuối cùng thì tìm thấy Thản lọt thỏm vào giữ khe hai tảng đá, mắc không thể ra được. Biền bèn đu người lên tảng đá, một tay bám vào cành phi lao một tay chìa cho Thản cầm, kéo lên. Kéo mãi thì Thản cũng lên được, người ngợm trầy xước vì va quyệt vào đá, tóc đã rối bù. Tay Biền mỏi rã rời, hai đứa trượt từ tảng đá xuống nằm vật ra cỏ mà thở. Bỗng đâu mặt đất rung chuyển, lóe sáng, bom đạn bổ nhào xuống nơi này. Máy bay rít trên đầu, pháo sáng rực trên núi, ngoài khơi xa, giật liên hồi kì trận. Biền ôm lấy Thản, lăn lại một hốc đá. Thản gỡ tay Biền đang che đầu mình, mắt nhìn trừng trừng về phía xóm chài.
 
Quá nửa đêm đạn bom mới tạnh hẳn, hai đứa vội dắt tay nhau chạy về xóm. Tiếng kêu khóc thống thiết trong ngôi nhà lá, em trai thứ của Thản đã bị dính đạn ngay loạt đầu. Đêm đó không trăng, không sao, bốn người ngư dân đưa em lên ngọn núi sau nhà, em nghỉ tại đó, mắt hướng ra biển.
 
Máy bay quay lại gầm réo trên đầu. Nơi đây bỗng là trọng điểm bắn phá của giặc. Bà con được lệnh động viên đi sơ tán, lớp học cũng sơ tán. Thản nhất quyết không đi, xin bố mẹ ở lại hương khói cho em, còn giữ nhà, giữ thuyền, hơn nữa là Thản muốn tham gia chiến đấu để trả thù cho em. Bố mẹ gạt nước mắt dắt hai đứa em nhỏ đi. Thản đào hầm ở cuối vườn. Biền cũng không đi vì ông nội Biền dứt khoát bám biển, chủ nhiệm vào vận động thì khẳng khái, chết cũng phải chết ở biển, lão ở lại nấu cơm, tiếp tế cho bộ đội đánh giặc. Trong làng cũng nhiều người trẻ không đi, ở lại ra nhập đội dân quân tự vệ giữ biển, giữ làng và giúp bộ đội đánh giặc.
 
Một đêm yên tiếng súng, Thản lén lút trèo lên núi, gần đó có một chốt của bộ đội, và những điểm canh giữ của tự vệ. Cái Hướng kể đã lên đó làm lá ngụy trang giúp các anh, còn xem các anh lắp pháo. Chưa lên tới nơi thì những luồng đạn, pháo đã phằng phằng. Dưới kia, nơi mí nước bom đạn của địch nhằm vào nơi đây mà nã, trên trời máy bay thả bom đạn xuống. Mặt đất, bầu trời lóe sáng. Bom, đạn, pháo, làm thành rung động như núi lửa phun nham thạch. Phía dưới lùm cây phi lao có tiếng người kêu thất thanh, tiếng pháo cao xạ chợt ngừng. Thản theo vệt kẻ đường phát sáng lúc trước mà đi tới, thấy anh lính cao xạ vừa bị trúng đạn, máu chảy đầy vai áo nhưng vẫn kiên gan giương nòng hướng ra phía biển nơi có tàu giặc. Trong màn khói dầy đặc, Thản trông thấy một anh khác vươn lên nắm chắc lấy nòng pháo. Anh ấy quát Thản, cô dân quân mau dìu đồng chí bị thương vào trong lều đi, còn đứng đấy mà nhìn. Thản lúng túng chạy đến, xé vội tay áo mình buộc cầm máu cho người bị thương, rồi lần theo đường mòn dìu vào trong lán. Đất cát vẫn rung chuyển, bước chân vẹo vọ, Thản chạm vào vai một người đang tải đạn. Thì ra là Biền. Ông sai Biền mang cơm lên chốt cho các anh, trận đối pháo xảy ra bất ngờ, Biền không quản ngại đã xông vào tải đạn. Giao thương binh cho cô y tá trong hầm, theo chân Biền, Thản cũng lao vào gùi đạn tới các ụ pháo cho các anh. Máy bay vẫn rít trên đầu, bom từ trên máy bay dội xuống, bom từ tàu giặc dội vào, biển và rừng sôi sùng sục, tất cả như muốn bùng cháy. Những hàng phi lao bị bẻ ngọn, bật gốc, những thùng phi bẹp rúm vùi trong cát, cát xoáy sâu như ao, có viên trứng đá bị đạn sượt qua tóe lửa. Những cây muối biển bị băm vằm, hoa trắng xoáy tròn cùng cát bụi. Đang gùi đạn bỗng chân Thản hẫng vào một hố cát sâu, người sắp lao xuống thì Biền đã kịp nhoài người với tay kéo Thản. Một mảnh đạn xuyên qua cánh tay Thản găm vào bắp chân Biền.
 
Hai tiếng đồng hồ sau thì tất cả yên trở lại. Tàu giặc bị đẩy lùi ra xa, máy bay cũng rút. Biển như một tấm gương phẳng lặng với những con sóng oàm oạp vỗ bờ như chưa từng xảy ra chiến trận.
 
Cả hai được đưa vào lán sơ cứu thì bác chủ nhiệm xã dẫn một bác cán bộ đi vào quan sát thực địa. Biền cùng mấy đồng chí bị thương khác được đưa ra phía sau phẫu thuật gắp mảnh đạn còn găm trong ống chân. Thản sau khi vết thương ở cánh tay lành miệng, chính thức được nhập vào đội dân quân tự vệ của xã. Đội dân quân tự vệ của xã đã sát cánh cùng với bộ đội bảo vệ trời biển quê hương. Sau mỗi trận chiến ác liệt, bao giờ cô cũng cất tiếng hát để động viên tinh thần đồng đội. Năm sau, Thản được cấp trên cử đi học tiếp, cô muốn ở lại chiến đấu, muốn xin đi bộ đội, nhưng đồng chí cán bộ bảo, học cũng là chiến đấu, sau này thống nhất rất cần đội ngũ tri thức về xây dựng đất nước, Thản đồng ý đi học.
 
Trong đợt về nông trường thực tập, vô tình Thản đã gặp lại Biền. Hôm ấy, Thản cùng đám bạn cật lực làm công việc san lấp dưới trời nắng như đổ lửa trên đồi, đang mong chờ chú đội trưởng điều thêm máy cày về như đã hứa thì hai chiếc máy cày đến thật. Phen này thì những quả đồi cứng đầu ngổn ngang hố bom, trơ lì sỏi đá sẽ bị thuần phục một cách dễ dàng. Cả bọn chạy ra đón. Từ trong một buồng lái thò ra một cái đầu bù xù, là Biền. Thản sững lại. Biền cũng nhận ra Thản, không nói được câu gì. Đám bạn thấy anh lái máy cày bước đi hơi tập tễnh, ôm miệng cười, thế này thì cày gì không biết. Biền nghe thấy, xua tay, chân tôi đi chấm phẩy nhưng đường cày rất thẳng hàng, rồi các cô xem.
 
Biết hai người cùng quê, chú đội trưởng phân công Thản cắm tiêu hướng đường cho máy của Biền chạy. Tới chiều tối thì một nửa quả đồi đã được chiếc máy cày san phẳng. Đội trưởng ra bắt tay Biền, chỉ trỏ giao nhiệm vụ ngày mai.
 
Biền dẫn Thản đi dạo bên ngọn đồi đã san lấp, hai chiếc máy cày cũng tựa đầu vào mé đồi mà nghỉ ngơi mai lấy sức cày tiếp. Chẳng bao lâu nữa, những quả đồi ngổn ngang hố bom sẽ biến thành nông trường với đủ loại cây xanh ngút ngát. Biền tự hào. Lúc này, Thản mới biết, sau khi phẫu thuật gắp mảnh đạn ra khỏi chân, Biền cũng được đi học sơ cấp lái máy, rồi được điều về xí nghiệp máy cày vùng này, lúc lên đồi, lúc xuống sông, lúc lại ra đồng, chẳng khi nào hết việc. Vui lắm nhưng vẫn nhớ quê, vẫn ước ao một ngày xin nghỉ phép được trở về quê, trèo lên hòn Trống Mái hái hoa muối biển ăn với sung chát nghe Thản hò trong rừng phi lao, chưa được về vì công việc lái máy bận rộn thì nay được gặp Thản ở đây, đúng là ước gì được lấy.
 
Sương rơi ướt tóc hai người. Đầu Thản đã ngả lên vai Biền, Thản cất giọng hò:… Hò…ơi…hoa muối biển vẫn nở đầy trên núi, bao nhiêu điều muốn ngỏ cùng ai, cánh hoa trắng li ti như hạt cát, lặng lẽ mặn mòi ngan ngát những sớm mai hờ la…í a.
 
Biền run run đặt nụ hôn lên môi Thản. Có vị mằn mặn của hoa muối biển quyện lẫn trong nụ hôn đầu. Trăng vẫn sáng trên đồi, Thản đỏ mặt đứng dậy. Đứa nào mà trông thấy nó về báo đội trưởng thì chết cả hai. Biền chạy đuổi theo, Thản chỉ tay lên chiếc máy cày nói, cho em ngồi lên buồng lái nhé!
 
Chiếc máy cày chạy giữa đêm trăng theo hướng tiêu Thản đã cắm ban chiều. Thản muốn Biền dậy Thản tập lái. Tay Biền cầm tay Thản, người Biền ép sát vào người Thản, chiếc máy cày lúc đầu khục khặc rồi cũng chồm lên. Tiếng máy rùng rùng, hai người ngồi sát vào nhau cũng rùng rình, người Biền muốn dính sát lấy người Thản. Đi được hơn chục mét bỗng quay ngoắt một cái, Biền còn đang lâng lâng khi cọ quệt vào tấm lưng ấm nóng của Thản không để ý dồn lực lên đôi tay nên cả cỗ máy Thản đã lái rẽ phắt về một bên, chạy như ngựa phi về phía đồi mấp mô hố bom giặc Mỹ. Biền vội đẩy người Thản ra, vồ lấy vô lăng, chiếc máy cày lại quay ngoắt một cái, đâm sầm vào tảng đá ngay mép đồi. Mặt Biền vập xuống vô lăng, một dòng máu tứa ra nơi đuôi mắt.
 
Ngay sáng hôm sau, đội trưởng lên đồi giám sát đã phát hiện ra đầu máy bị hư hỏng nặng liền gọi Biền lúc ấy đang lăn ra sửa lại tra hỏi. Trán vẫn quấn băng, Biền khai, tại đêm qua trăng sáng, em định tranh thủ làm vài cuốc để xong sớm sẽ xin phép về quê một chuyến, không ngờ mất lái phải thắng gấp nên đầu máy vập vào đá, bị hư hỏng. Thản ngừng tay cắm tiêu, định thanh minh cho Biền thì Biền lừ mắt ra hiệu im lặng. Đội trưởng quát, chỗ này đầy hố bom không phải trên đồng mà cậu tranh thủ cày đêm được, làm việc tùy hứng không theo nguyên tắc chỉ đạo gì cả, về lán viết bản kiểm điểm,  tôi còn báo cáo điều máy khác về hỗ trợ. Còn cô Thản, máy hỏng chữa còn lâu mới xong, cắm tiêu nữa làm gì, ra đằng kia san lấp với mọi người đi.
 
Đội trưởng đi trước, vẻ mặt hầm hầm tức giận. Thản khẽ nói với Biền, để em nhận lỗi, Biền lại cấu tay Thản, ngày mai em kết thúc đợt thực tập, về trường lại chuẩn bị kết nạp Đảng, đừng nói gì kẻo hỏng hết.
 
Trong lúc Biền bám theo cái đầu máy cứng đầu về xí nghiệp để sửa chữa thì Thản có giấy gọi về trường gấp. Tờ nhận xét về đợt thực tập cho Thản, đội trưởng nắn nót viết dòng chữ to như trứng gà, hoàn thành chương trình thực tập xuất sắc. Trước khi tốt nghiệp, Thản được kết nạp Đảng. Ngay sau đó, được cử đi học hàm thụ tại nước bạn.
 
Bên đó, việc học, việc buôn bán thêm để lấy tiền chi tiêu ăn học và còn gửi về phụ giúp gia đình, những mối quan hệ mới đã làm cho Thản dần quên đi mối tình trong ngần đầu đời. Thản gặp và yêu Vững. Về nước, hai người tổ chức đám cưới, Thản ra công tác, ở hẳn Hà Nội. Hai đứa em cũng được Thản xin cho đi học rồi chạy cho việc làm, sau chuyển hết gia đình ra ngoài này, với cương vị của Thản, cùng với các mối quan hệ của hai vợ chồng, chuyện đó không khó. Bố mẹ đều đã mất từ lâu. Lúc giỗ Tết mấy chị em đánh chuyến xe về quê thắp hương cho ông bà, rồi lại đi ngay. Hồi con cái còn nhỏ, thư thả, Thản cũng đưa bọn trẻ đi lên hòn Trống Mái, đền Cô Tiên, đền Độc Cước. Thản kể cho chúng nghe chuyện hoa muối biển, sự tích các ngôi đền, chuyện chiến đấu ngày trước đã diễn ra nơi vùng biển này như thế nào, nhưng khi lớn lên, khi ra đó, chúng đã không ham chuyện Thản kể bằng việc tìm những góc cạnh đẹp để chụp những bức hình rồi ắp lên mạng đợi câu like. Câu hò về hoa muối biển của Thản hình như cũng quên vãn. Đứng một mình trong rừng phi lao, nhìn ke đá hồi bé rơi lọt thỏm vào tắc ở đó không lên được, Thản chỉ biết thở dài. Chợt nhớ tới Biền, có người bà con kể, Biền đã thôi làm ở xí nghiệp máy cày từ lâu, về quê đánh cá, sau thì dẫn cả vợ con vào Tây Nguyên làm kinh tế mới.
 
*
 
Giờ thì Biền ngồi trên cát đang tẩm quất cho chồng Thản, Biền nhìn Thản, nói với Thản nhưng Biền không hề nhận ra Thản.  Có khi nào cuộc đời chìm nổi đã xóa hết mọi kí ức của Biền về Thản. Hay Thản chẳng có gì cho Biền nhớ ?
 
Bác bảo cháu ra gọi cô vào. Hà nướng đã chín núc rồi cô ơi!
 
Người cậu thanh niên cũng một màu nắng gió, một mùi biển, một khuôn mặt hao hao gầy với đôi mắt to thăm thẳm. Cậu mỉm cười nhìn Thản như muốn giục bước chân cô mau mau lên bờ.
 
Cháu làm cái này với bố thu nhập có khá không?
 
Cũng tàm tạm, nhưng chỉ được mấy tháng hè. Hết hè, cháu về đi xây.
 
Còn bố cháu?
 
Chân bố cháu giờ yếu không đi xây được, bố cháu về nhà làm ruộng với mẹ, thỉnh thoảng ai gọi thì đến nhà tẩm quất cho người ta.
 
Bố cháu còn làm gì nữa không?
 
Bố cháu vốn là ngư dân, có thời gian lái máy cày. Sau, nhà cháu đi vào vùng kinh tế mới, nhưng bố cháu nhớ biển không chịu được lại dắt díu nhau về. May mà để dành được ít tiền mua đất ở làng khác làm nhà, chỗ xóm chài cũ giờ người ta xây khách sạn hết rồi. Mà bố cháu lạ lắm cơ, có người cũng bị thương trong trận đó như bố cháu, người ta xin được xuất hỗ trợ cả chục triệu, mẹ cháu giục bố cháu làm hồ sơ, bố cháu mắng, bê vài bao đạn tiếp tế thôi chứ có gì mà phải xin hỗ trợ.
 
Cô trông bố cháu giống người bạn cũ của cô mà cô chưa dám nhận, bố cháu có phải tên là Biền?
 
Đúng rồi cô ạ, tên bố cháu đúng là Biền. Bố cháu không nhận ra cô cũng phải thôi, do trời tối, với lại càng già, mắt bố cháu càng kém đi, nếu đổi gió, đuôi mắt trái lại giật nhay nháy, nước mắt trào ra. Cô vào đi, cháu gọi bố cháu.
 
Cậu con trai Biền mau mồm khoe với bố ngay khi Thản và cậu ấy bước tới gần chiếu tẩm quất của Biền. Nét mày Biền thoáng chau lại, mắt trái giật liên hồi.
 
Kéo ghế mời Thản ngồi, Biền nhìn Thản chăm chăm.
 
Tôi cũng hơi ngờ ngợ, nhưng thấy Thản khác xưa quá, không dám chắc chắc, kẻo mang tiếng thấy người sang bắt quàng làm họ.
 
Sáng hôm sau, khi chồng vẫn còn say ngủ, Thản vẫy xích lô đi lên hòn Trống Mái một mình. Hòn Trống Mái chẳng thay đổi, chỉ có hoa muối biển Thản chưa nhìn thấy. Lúc xuống núi sang đền Cô Tiên, Thản gặp chiếu tẩm quất của Biền dải ngay dưới một tán cây ven lối mòn lên núi. Người đàn ông vừa được tẩm quất xong, đứng dậy bước đi rất khoan khoái mỉm cười nhìn Thản, nhìn rừng cây.
 
Biền mời Thản uống nước. Hai người trò chuyện như những người bạn cũ lâu ngày không gặp.
 
Về sau, Thản bảo:
 
Nếu anh muốn, em có thể giúp anh, xin một công việc làm tử tế cho con trai anh ở ngay thành phố, hoặc thị xã này.
 
Biền cười, cất lời cảm ơn tấm lòng của Thản. Thản đợi Biền xác nhận đồng ý với thiện chí của cô, nhưng Biền chẳng nói gì thêm, ngẩng đầu lên nhìn vào rừng phi lao xanh thẳm.
 
Thản cất bước. Gió từ rặng phi lao thổi qua mặt Thản, mang theo vị mặn mòi của biển, cả mùi hăng hắc, thơm thơm. Quay lại phía sau, cô chợt nhìn thấy ở ngay lưng chừng sườn núi có một cây hoa muối biển như mọc ra từ khẽ đá, đang trổ những bông hoa li ti trắng ngần.

GỬI Ý KIẾN