1 Cục hàng hải VIệt Nam Vinalines VINASHIN NXB

Con đường khắc dấu một đời

- Nguồn: Trần Quang Quý/Văn nghệ số 38/2017

Tôi đọc rải rác thơ anh Lã Ngọc Khuê, Giáo sư - Tiến sĩ Khoa học in trên báo Văn nghệ, Người Hà Nội… từ lâu, và đã chú ý những bài thơ viết về giao thông rất riêng của anh.


GS.TSKH, nhà thơ Lã Ngọc Khuê
 
Nhưng tới tháng 8/2016, khi anh tập hợp lại trong hai tập thơ: Trở về và Người cuối cùng ở lại (sau nhiều sách về khoa học), tôi mới có dịp đọc một cách hệ thống, đặc biệt là ở Người cuối cùng ở lại (Nxb. Hội Nhà văn, 2016), mà ở đó, anh đã dồn cả mối quan tâm thăm thẳm tình người, những nếm trải của một nhà khoa học, nhà quản lý khảm khắc với cái nghề đã một đời gắn bó, một ngăn chứa ăm ắp trong tâm hồn cho những con đường, những cây cầu, những con người sống chết vì nó kể cả trong chiến tranh hay những ngày hòa bình
 
Không phải ngẫu nhiên tập thơ ấy được trao giải Nhì cuộc vận động văn học viết về Ngành Giao thông nhân kỷ niệm 70 năm, giữa Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ GTVT trước khi nó được xuất bản (Lúc đó có tên Cách đi là cách sống).
 
Trong Người cuối cùng ở lại, thơ Lã Ngọc Khuê có nhiều bài thường bắt đầu từ một ký ức, một câu chuyện thật, một con người thật, một đề tài khoa học đã triển khai… Vì vậy, thơ có hơi thở đời sống lao động của những người làm cầu đường. Cũng vì vậy, nhiều bài thơ của anh như một “bút ký thơ” khởi sinh từ hiện thực sinh động mà chiêm nghiệm, rút ra ý nghĩa sống, những giá trị đạo đức, văn hóa của nghề, từ nghề. Và, tôi cho rằng, trước tiên, tình yêu với nghề giao thông, dành tâm huyết sáng tạo, ngoài khoa học và quản lý, là thơ về giao thông của anh, bắt nguồn từ chính con đường làng mình, con đường thuở ấu thơ, thấm đẫm bước chân mẹ đi qua những mùa ngập lụt, đói nghèo, se sắt: “Làng mình nghèo/ Không có nổi một phiên chợ phiên/ tháng ba lần/ mẹ phải qua làng Bảo Yên đi chợ/ con đường, cánh đồng chiêm, mùa khô, mùa lũ/ mùa nào cũng lầy, cũng lội như nhau/… lần nào mẹ cũng phải đội thúng lên đầu/ lội như bơi qua cái đầm sâu ấy/… để chiều nay con nhìn ra phía đầm Cầu Cũ/ thương mẹ bao nhiêu, suốt đời lam lũ” (Đầm Cầu Cũ). Ký ức về mẹ và con đường đồng chiêm trũng rõ ràng là động lực để Lã Ngọc Khuê theo nghề giao thông, là sự hối thúc một cách tự nhiên cho thơ về giao thông của anh, cái duyên thơ trọng yếu nhất của một đời thơ, hồn thơ.
 
Nó còn là từ sự cách trở quê Thanh Thủy, Phú Thọ của anh với nội tỉnh (Lâm Thao, Việt Trì, Phú Thọ), với ngoại tỉnh (Hà Tây, Hà Nội) hàng ngàn đời, chỉ đi đò, sau này là phà cho đến khi có cầu Trung Hà, tháng 4/2002. Hành trình của những cây cầu anh theo đuổi phải chăng từ những bến đò xa xăm trên sông Đà, với những người xưa thương nhớ ấy: “Còn chăng người chị chuyến đò xưa/ sông vành đai trắng những đêm mưa/ giặc bắn cầm canh trên bốt Chẹ/… Những người con ấy nay về đâu/ Chỉ thấy một màu xanh nương dâu/ lô nhô sóng vỗ đôi bờ cát/ núi nhớ ai, mây trắng mái đầu” (Chiều cuối năm ở bến đò Đá Chông).
 
Từ con đường chiêm trũng lẫy lội, con đò ghì gẫm thời gian đến một cây cầu để vượt qua ngăn cách của những dòng sông, có khi chỉ rộng một vài trăm mét, nhưng ở đất nước ta lại không chỉ đo bằng không gian như vậy, bởi có những: “nỗi xa cách đâu chỉ là một tầm nước trắng/ nỗi xa cách khôn cùng là đất nước biệt ly/ không một cây cầu nào có thể bắc qua/ nỗi xa cách dập vùi bao số phận…” (Cầu Gianh). Bên Cầu Gianh ngày xây lại, Lã Ngọc Khuê từ đó mà tái hiện lịch sử, nỗi đau phân chia đất nước từ thời Trịnh - Nguyễn. Tất nhiên rồi, để có cây cầu đó, dân tộc đã phải đi qua hàng thế kỷ binh đao và ly biệt cho tới trận đánh cuối cùng, khi ta nghe: “những chuyến phà gan góc chở quân đi/… nguời lái phà không bao giờ về nữa/ mẹ ta chạy thất thần đầu trần tóc xõa/ rũ rượi đi tìm xác con, trên dòng sông mưa trắng ngập bờ/ dấu chân mẹ vẫn còn ở kia/ nơi trụ cầu Gianh đứng lên từ đó/ người thợ Thăng Long bắc cầu đêm đêm nghe tiếng mẹ/ gọi con mình từ phía dòng sông…” (Cầu Gianh). Tiếng gọi của một niềm bi tráng lịch sử, nghe còn rợn tóc và bóng hình người mẹ tạo nên kết cấu vật chất, kết cấu tinh thần của người thợ trên những trụ cầu, những công trình giao thông, vận tải tích tụ như thế.
 
Ga Hàng Cỏ là biểu tượng oanh liệt một thời, là dấu ấn khó quên của nhiều nhà thơ khi viết về trung tâm giao thông của Thủ đô và đất nước, đồng hành cùng bao lớp chiến sĩ ra trận trong cuộc trường chinh thống nhất đất nước, bao người con đã không bao giờ trở về cái “cổng làng Thành phố” vang vọng tiếng còi những đêm đưa quân vào mặt trận: “cả nhà ga thân yêu của chúng ta, cũng lẫm liệt tử thương như một chiến binh/ trong cái đêm trời Hà Nội bùng lên một rừng đuốc lửa/ 26 tháng 12 trận giáp chiến cuối cùng/ Bây giờ, vào những đêm đông/ khi Thành phố ngủ rồi/ chỉ còn mẹ và tiếng còi tàu vọng lên từ phía nhà ga đầy gió/ từ phía cái cổng làng Thành phố/ chôn chân ngóng đợi người về…” (Nhà ga thành phố). Nhà thơ Vũ Quần Phương ấn tượng nhắc đến cái “cổng làng Thành phố” đa nghĩa của Lã Ngọc Khuê trong tổng kết Cuộc thi thơ Ngàn năm Thăng Long - Hà Nội (báo Văn nghệ và Đài PTTH Hà Nội tổ chức), mà anh cũng được giải trong cuộc thi đó.
 
Và bây giờ là một cây cầu khác, cầu Phong Châu bắc qua sông Thao (sông Hồng) nối sự chia cắt các huyện hai bờ tả - hữu của Phú Thọ, trong đó có huyện Thanh Thủy của anh Lã Ngọc Khuê và người đồng hương cùng huyện, đồng nghiệp, Bộ trưởng Bộ GTVT, Gs. Bùi Danh Lưu. Cũng bắt đầu từ câu chuyện có thật, rất cảm động khi Bộ trưởng cắt băng thông cầu Phong Châu, có một người mẹ lòa không thể len vào dòng người vui mừng chào đón sự kiện. Đợi vãn chiều, cháu gái mới có thể dắt mẹ chậm rãi từng bước lên cầu, và mẹ: “bàn tay gầy đặt lên từng đốt lan can/ như để nhận mặt cây cầu/ đã bắc qua đời mẹ bao nhiêu nhịp chờ mong/ những nỗi chờ mong, đâu mong ngày giáp mặt” (Nỗi khát mong trần thế). Quả là nỗi khát mong cả đời của bao bà mẹ, bao kiếp người lận lụi trên trung du Đất tổ gian truân và nghèo khó, bị chia cắt bởi ba dòng sông: sông Đà, sông Hồng, sông Lô. Người ta bảo, lịch sử chiến tranh viết bằng nỗi đau và sự chờ mong đến thắt lòng của những người mẹ. Những người thợ cầu, hay chính nhà thơ vẫn thấy như mình có lỗi: “Sao chúng con không làm cây cầu này sớm hơn/ khi mẹ còn nhìn thấy được/ để bây giờ với mẹ/ cây cầu này rằng có hay không...”. Những câu thơ khía vào ta bao tâm sự và mong khát đời người như vậy.
 
Sau chiến tranh, cầu đường như là một mặt trận khác, không kém phần cam go, nóng bỏng; mặt trận phá sự tù túng, kìm hãm của sông núi, cầu đường, bến cảng… cho đất nước có “đường băng” cất cánh phát triển, giải tỏa nghèo khó, lạc hậu nhiều thập kỷ. Biết bao cây cầu, bến cảng dọc đất nước đã được dựng xây. Lã Ngọc khuê đã viết “Về một người làm cầu Chương Dương” trong hoàn cảnh bao gian khó, vì đây là cây cầu đầu tiên do người Việt tự thiết kế, tự xây dựng và sử dụng năm 1985, vô cùng có ý nghĩa về giao thông, về kinh tế lúc bấy giờ. Ông cũng viết “Chú ngựa chíp”, một đề tài khoa học chuyên ngành trong việc “thiết kế, chế tạo các loại giá chuyển hướng toa xe” mà không bị khô khan, gò bó; nó phóng túng như bước ngựa phi: “Rồi đây đường vạn ngả/ chắc còn nhiều gió sương/ bởi chăng hồn tuấn mã/ ruổi theo bao dặm trường/ Sẽ là đêm trăng vàng/ tàu băng qua nội cỏ/ sẽ có ngày mưa giăng/ buồn tênh trên ga cũ/… Và chiều xuống kia rồi/ hoàng hôn đầy tiếng gió/ nao lòng từng nhịp vó/ gọi dồn… trong xa xôi”...
 
Viết về một cây cầu, về một địa danh giao thông lớn, có bề dày lịch sử, có vị trí trọng yếu, khí thơ của Lã Ngọc Khuê vừa thăng hoa ngân vọng, vừa trầm lắng sâu sắc, nhiều suy nghiệm thế sự mang hơi hướng sử thi; dung lượng bài thơ thường dài mà tôi nói là “ký sự thơ” để có thể tải hết những giãi bày. Hay những triết ngôn “Cách đi là cách sống”, “Về những con đường”, ví dụ như: “không ai đem những con đường chia ra mỗi người một khúc/ đường luôn là chung cho tất cả/ luôn công bằng/ luôn rộng mở/ đại gia và người vay nợ, ở trên đường đều phải biết đi chung”. Nhưng thực ra thơ anh cũng giàu cảm xúc trữ tình khi viết về những nữ công nhân mở đường thông tuyến hoặc duy tu, vá đường trên những con đèo mù sương Tây Bắc, nhọc nhằn, cam chịu giá lạnh mùa đông, mưa lũ xối mùa hè: “Lũ lại đổ về, đất lại đau/ em đi mưa gió áo bạc màu/ lòng anh xa xót hình dung lại/ gương mặt trắng hồng răng hoa cau/ dáng hình năm ấy nay còn đâu/ qua bao ngầm đá, mấy nhịp cầu/ cổng trời em giữ mùa xuân lại/ sao thời con gái lại qua mau… (Về Lai Châu). Mọi thứ có thể đổi thay, nhưng thân phận những người lao động thủ công ấy dường như đã gắn đời mình với những ta luy sụt, những ổ gà, ổ voi… tối ngày chường mặt ra đường, thu hút sự cảm thông, chia sẻ của nhà thơ. Và cũng trớ trêu thay, họ thường bị bỏ quên trên những con đèo mù sương như vậy, giữa lúc số đông xã hội chạy đua với những mưu lợi, toan tính khác: “Trời rộng thế chẳng thỏa lòng khao khát/ nỗi đa đoan thế sự hóa vô chừng/ bỏ quên em bên cung đường rừng/ ngôi sao hôm như giọt lệ cuối cùng vương trên lèn đá…”. Nhưng họ, những cô gái bỏ cả tuổi xuân mình trên mịt mùng Tây Bắc, trong tâm hồn nhà thơ ra sao: “Nhưng anh biết/ chỉ còn em/ chỉ còn em/ người cuối cùng ở lại/ chờ anh… trên những chặng đường dài” (Người cuối cùng ở lại).
 
Cũng thật ngỡ ngàng, tưởng điệu thơ sử thi, thế sự và suy tư về nghề ấy cứ “lên giọng” mãi, nhưng Lã Ngọc Khuê có khá nhiều bài thơ da diết, lãng mạn, “trầm lại” trong những “khoảng hẫng” duy cảm, như khi viết về các cô gái văn nghệ GTVT ở miền núi: “Anh ở dưới này đồng đất miền xuôi/ cứ thèm khát một màu xanh đắm đuối/ tiếng ai hát xa xăm vời vợi/ bên rừng chiều theo mãi bước người đi” (Chia tay hội diễn). Khi viết về một con đường tình yêu: “Con đường quen/ những hàng cây thưa/ nơi chúng ta ao ước gặp nhau/ trong một lần bất chợt/ bây giờ em ở đâu/ anh làm sao biết được/ chỉ có những gốc sấu già im lặng nhớ mong thôi” (Váng vất). Hay những chênh chao, thường gắn với mùa thu, cái mùa heo may, lãng đãng khói sương của trái tim đa cảm: “Ai đã xui mùa thu/ mấy lần rồi lỗi hẹn/… Bãi vắng bờ sông xưa/ đã tàn mùa hoa cải/ mây như là sương khói/ giăng giăng chiều sa mưa(Chiều). Và mùa thu đây nữa: “Có phải từ bữa người đi/… nắng bỏ quên ngày trên mái rạ/ bãi vắng bây giờ lau thưa/ Thế là mùa thu đi qua/ thế là người chưa trở về/ cát trắng bên sông chiều trở lạnh” (Buồn)…
 
Thơ Lã Ngọc Khuê là thế, gieo vào ta những khoảng hẫng của mùa, da diết của chia xa, nao nao những cung đường rừng, vời vợi nhớ thương cánh đồng xa xăm bóng mẹ; cả những suy nghiệm và cất cánh trong mỗi khát vọng của cây cầu, chuyến tàu... Vì tôn trọng những điều có thực, có bài thơ còn dàn trải, sau đó lại có chú thích để giải thích hoàn cảnh, địa danh viết bài thơ đó, mà thực ra thơ cần sức gợi, sức cảm hơn là sự rõ ràng, cụ thể. Nhưng thật mừng, ở tuổi anh, những câu thơ chắc nặng, trong sáng, khá kỹ về câu, gắng tìm tòi chữ và ý. Đặc biệt, thơ anh vẫn bắt kịp với giọng thơ hiện đại, của thơ đương đại.
 

 

GỬI Ý KIẾN