1 Cục hàng hải VIệt Nam Vinalines VINASHIN NXB

Một số hạn chế trong ứng phó sự cố tràn dầu ở Việt Nam

- Phạm Thị Gấm

Theo thống kê của Hiệp hội các chủ hàng chở dầu quốc tế từ năm 2005 đến năm 2014 đối với 39 quốc gia thì Việt Nam là một trong 5 quốc gia có số lượng sự cố tràn dầu nhiều nhất với số lượng từ 10 sự cố trở lên [1]. Theo một số thống kê của Việt Nam thì trung bình một năm có khoảng 3 sự cố tràn dầu, bao gồm cả sự cố xác định được nguồn gốc và không xác định được nguồn gốc.Để đối mặt với vấn đề này, Việt Nam đã và đang nỗ lực trong việc xây dựng khung khổ pháp lý, thể chế, xây dựng nguồn lực, tăng cường trang thiết bị và hợp tác quốc tế để ứng phó sự cố tràn dầu. Tuy nhiên, việc chuẩn bị và ứng phó sự cố tràn dầu ở Việt Nam còn một số hạn chế, cụ thể:


 
Thứ nhất, về khung khổ pháp lý, Việt Nam đã ban hành một loạt các văn bản quy định vềứng phó sự cố tràn dầu, tuy nhiên vẫn có nhiều hạn chế. Văn bản pháp lý đầu tiên được ban hành năm 2003 và đã được thay thế bằng Quyết định số 02/2013/QĐ-TTg ngày 14 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế ứng phó sự cố tràn dầu, trong đó đã quy định chi tiết thẩm quyền của các cơ quan trong việc xây dựng, thẩm định và thông qua kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu các cấp, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vi, cá nhân trong việc ứng phó sự cố tràn dầu. Năm 2015, Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã được thông qua quy định về ứng phó sự cố tràn dầu trên biển tại Chương VII với 5 điều, quy định về các cấp ứng phó, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chuẩn bị và ứng phó sự cố tràn dầu trên biển.
 
Bộ Luật hàng hải Việt Nam năm 2015 quy định tàu biển khi đóng mới và cảng biển khi được xây dựng phải có kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu[2];Quyết định số 63/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 02/2013/QĐ-TTg quy định chi tiết về tàu trở dầu có dung tích từ 150RT trở lên, các tàu khác có tổng dung tích từ 400RT trở lên phải có Kế hoạch ứng cứu ô nhiễm dầu của tàu.Luật bảo vệ môi trường năm 2014 không có quy định cụ thể nhưng có quy định về ứng phó sự cố môi trường nói chung; Nghị định số 30/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21 tháng 3 năm 2017 quy định tổ chức, hoạt động ứng phó sự cố thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn, trong đó có cả sự cố tràn dầu.Ngoài ra, Luật giao thông đường thuỷ nội địa năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định các phương tiện thuỷ nội địa chuyên chở xăng, dầu phải có phương án ứng phó sự cố tràn dầu [3].
 
Chính do có nhiều văn bản luật có liên quan quy định về ứng phó sự cố tràn dầu nên đã có sự không thống nhất.Về phạm vi điều chỉnh, không có luật nào quy định đầy đủ về ứng phó sự cố tràn dầu, cụ thể Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có phạm vi điều chỉnh trên các vùng biển, Luật giao thông thuỷ nội địa điều chỉnh đối với phương tiện thuỷ nội địa, Bộ Luật hàng hải điều chỉnh đối với tàu thuyền và cảng biển, Luật bảo vệ môi trường mặc dù phạm vi điều chỉnh cả trên đất liền và trên biển, tuy nhiên không có quy định cụ thể về ứng phó sự cố tràn dầu, do đó, quy định liên quan đến ứng phó sự cố tràn dầu trên đất liền chưa được quy định cụ thể trong các luật.
 
Về đối tượng điều chỉnh, Quyết định số 02/2013/QĐ-TTg và Quyết định số 63/2014/TTg chỉ quy định trách nhiệm xây dựng kế hoạch ứng cứu sự cố tràn dầu đối với tàu trở dầu có dung tích từ 150RT trở lên, các tàu khác có tổng dung tích từ 400RT trở lên phải có Kế hoạch ứng cứu ô nhiễm dầu của tàu, mà không có quy định đối với tàu chở dầu có dung tích nhỏ hơn 150RT và tàu khác có dung tích nhỏ hơn 400RT, trong khi đó Luật giao thông thuỷ nội địa quy định các phương tiện thuỷ nội địa vận tải hàng hoá là xăng, dầu phải có phương án ứng phó sự cố tràn dầu và Bộ luật hàng hải Việt Nam quy định tàu đóng mới phải có kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu mà không quy định giới hạn dung tích của phương tiện.
 
Ngoài ra, mặc dù Việt Nam đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật tạo khung khổ pháp lý cho công tác ứng phó sự cố tràn dầu, tuy nhiên, hầu hết các văn bản quy định chi tiết về nội dung này chưa được ban hành như quy định hướng dẫn quy trình xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu các cấp (hướng dẫn này mới được ban hành dưới dạng tài liệu hướng dẫn, không phải là văn bản quy phạm làm cơ sở cho địa phương thực hiện); quy định về quy trình sử dụng chất phân tán; quy trình phục hồi và cải thiện môi trường do sự cố tràn dầu, quy định quy trình đòi bồi thường thiệt hại do sự cố tràn dầu; quy định về thẩm quyền và quy trình lập phương án ứng cứu sự cố tràn dầu đối với các phương tiện thuỷ nội địa vận tải xăng, dầu,…
 
Điều này đã hạn chế đáng kể việc triển khai thực hiện hiệu quả các quy định và kết quả là đến nay kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu cấp quốc gia chưa được phê duyệt; hầu hết các địa phương đều lúng túng trong việc hướng dẫn các cơ sở xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu cấp cơ sở tại địa phương; việc khắc phục ô nhiễm môi trường sau sự cố tràn dầu rất hạn chế; trên 70% sự cố tràn dầu trên vùng biển Việt Nam chưa được bồi thường.
 
Thứ hai,nhiều cơ quan, ban, ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp đều có trách nhiệm trong việc thực hiện ứng phó sự cố tràn dầu,tuy nhiên, trách nhiệm của các cơ quan này không rõ ràng. Uỷ ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn là cơ quan là cơ quan phối hợp liên ngành, có cơ quan thường trực thuộc Bộ Quốc phòng vàkhông phải là cơ quan quản lý nhà nước. Uỷ ban có chức năng giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, tổ chức phối hợp thực hiện công tác ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trong phạm vi cả nước và hợp tác khu vực, quốc tế, bao gồm cả ứng phó sự cố tràn dầu; đồng thời là cơ quan đầu mối hợp tác ứng phó sự cố tràn dầu giữa Việt Nam và Phillipine, giữa Việt Nam, Thái Lan và Campuchia.
 
Các bộ, ngành, địa phương các cấp thành lập Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm Cứu nạn, trong đó một số bộ chính như: Bộ Giao thông và Vận tải là đầu mối thực hiện Cơ chế hợp tác ứng phó sự cố tràn dầu trong ASEAN; Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm chính trong việc phục hồi môi trường biển do sự cố tràn dầu; Bộ Công thương có trách nhiệm hướng dẫn các địa phương liên quan xây dựng kế hoạch và chuẩn bị lực lượng, phương tiện thực hiện ứng phó sự cố tràn dầu. Một số lực lượng nòng cốt trong ứng phó sự cố tràn dầu thuộc các bộ khác nhau như Trung tâm Ứng phó sự cố tràn dầu khu vực miền nam thuộc Bộ Công thương, Trung tâm ứng phó sự cố tràn dầu khu vực miền Bắc và Trung tâm Ứng phó sự cố tràn dầu khu vực miền Trung thuộc Bộ Quốc phòng.
 
Mặc dù Uỷ ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn là cơ quan có trách nhiệm chỉ huy các lực lượng trong triển khai ứng phó sự cố tràn dầu, tuy nhiên, với việc quá nhiều cơ quan quản lý nhà nước được giao các công việc khác nhau liên quan đến ứng phó sự cố tràn dầu, không có một cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm chính trong việc tham mưu xây dựng chính sách, pháp luật, đầu tư phát triển đội ngũ chuyên gia, trang thiết bị và hợp tác quốc tế một cách toàn diện sẽ tạo ra các khoảng trống và sự thiếu đồng bộ, gây trở ngại cho việc ứng phó và khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu kịp thời và hiệu quả.
 
Thứ ba, Việt Nam cũng chú trọng đến công tác hợp tác quốc tế để ứng phó sự cố tràn dầu, đặc biệt là ứng phó sự cố tràn dầu trên biển, tuy nhiên việc hợp tác với các quốc gia còn hạn chế.Việt Nam đã có thoả thuận hợp tác ứng phó sự cố tràn dầu với Phillipine và với Thái Lan và Campuchia; có thoả thuận về cơ chế hợp tác trong ASEAN về ứng phó sự cố tràn dầu. Đến nay, một số hoạt động hợp tác với Phillipine, Thái Lan, Campuchia đã được triển khai, tuy nhiên, các hoạt động hợp tác trong khu vực ASEAN vẫn chưa được triển khai thực hiện.
 
Ngoài ra, mặc dù Trung Quốc là quốc gia láng giềng có chung đường biên giới trên biển với Việt Nam và có hoạt động hàng hải dày đặc và hoạt động khai thác trên biển có nguy cơ cao gây sự cố tràn dầu, nhưng đến nay Việt Nam chưa có thoả thuận hợp tác cụ thể nào về ứng phó sự cố tràn dầu với quốc gia này. Bên cạnh đó, mặc dù nước ta đã là thành viên của các công ước có liên quan đến sự cố tràn dầu như Công ước quốc tế về Ngăn chặn ô nhiễm môi trường từ tàu (MARPOL 73/78), Công ước và Nghị định thư về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại ô nhiễm dầu (CLC 92), tuy nhiên, Việt Nam chưa ra nhập Công ước quốc tế về Hợp tác, chuẩn bị và ứng phó sự cố tràn dầu (OPRC) và Công ước và Nghị định thư quốc tế về thiết lập Quỹ quốc tế về bồi thường thiệt hại ô nhiễm dầu (Công ước FUND).
 
Công ước OPRC là điều ước quốc tế quan trọng nhất về chuẩn bị và ứng phó sự cố tràn dầu.Việt Nam chưa là thành viên của OPRC có nghĩa là thiếu có cơ hội trao đổi kinh nghiệm, khoa học kỹ thuật tiên tiến và hợp tác với các thành viên giàu kinh nghiệm trong ứng phó sự cố tràn dầu; không nhận sự hỗ trợ các quốc gia thành viên trong chuẩn bị và ưng phó sự cố tràn dầu trong những trường hợp nghiêm trọng; không tham gia hệ thống thông tin toàn cầu về ứng phó sự cố tràn dầu và hệ thống giám sát toàn cầu về sự cố tràn dầu để tăng cường năng lực và tiếp nhận thông tin kịp thời về các nguy cơ, xác nhận các nguyên nhân sự cố tràn dầu.
 
Thực tế trong những năm qua, hàng năm lượng dầu trôi dạt vào bờ biển của nước ta diễn ra thường xuyên và với khối lượng lớn, điển hình là năm 2006 - 2007 dầu dạt vào bờ biển của 20 tỉnh ven biển với khối lượng thu gom được là trên 1700 tấn dầu, nhưng đến nay, vẫn không xác định được nguyên nhân gây ra sự cố để làm cơ sở truy cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường biển của nước ta. [4]
 
Kết luận:
 
Sự cố tràn dầu được xem là sự cố ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do chúng gây thiệt hại rất lớn cho môi trường, hệ thái nếu không được ứng phó kịp thời. Việt Nam đã và đang xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách để đối phó với vấn đề này, tuy nhiên, vẫn tồn tại một số bất cập.Để bảo vệ môi trường môi trường, Việt Nam cần phải mau chóng giải quyết những hạn chế để đảm bảo việc phòng ngừa, chuẩn bị và ứng phó sự cố tràn dầu một cách hiệu quả.
 
Việt Nam cần thống nhất các quy định liên quan đến ứng phó sự cố tràn dầu tránh chồng chéo, trùng lắp; ban hành sớm các văn bản, tài liệu hướng dẫn làm cơ sở triển khai thực hiện có hiệu quả việc xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu; khắc phục thiệt hại và đòi bồi thường ô nhiễm môi trường do sự cố tràn dầu; sớm xây dựng và thông qua kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu cấp quốc gia.Phân công rõ trách nhiệm các cơ quan, đặc biệt là chỉ định cơ quan quản lý nhà nước đầu mối thống nhất trong việc tham vấn, hoạch định chiến lược, kế hoạch toàn diện trong việc xây dựng chính sách, đầu tư nguồn lực cho ứng phó sự cố tràn dầu là một trong những nhiệm vụ ưu tiên nước ta cần sớm hoàn thiện. Ngoài ra, Việt Nam cần tăng cường hợp tác với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là hợp tác với Trung Quốc trong ứng phó sự cố tràn dầu, tích cực chủ động trong việc triển khai thực hiện Cơ chế hợp tác ứng phó sự cố tràn dầu trong ASEAN. Đặc biệt, Việt Nam cần sớm xem xét tham gia Công ước OPRC để tranh thủ sự hỗ trợ, trao đổi kinh nghiệm và hợp tác với các quốc gia thành viên để giải quyết sự cố tràn dầu hiệu quả hơn.
 
Tài liệu tham khảo
 
[1] http://www.itopf.com/knowledge-resources/documents-guides/document/trends-in-oil-spills-from-tankers-over-the-past-ten-years/
[2] Khoản 1 Điều 128 Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015;
[3] Khoản 1 Điều 95 Luật giao thông thuỷ nội địa năm 2004;

[4] Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010. 

GỬI Ý KIẾN