1 Cục hàng hải VIệt Nam Vinalines VINASHIN NXB

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tìm kiếm, cứu nạn trên biển (kỳ cuối)

- Trung tướng, TS. Nguyễn Quang Đạm*

Trong những năm tới, dự báo tình hình thời tiết, khí hậu, thủy văn và thiên tai, sự cố trên biển sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; công tác đảm bảo thiết bị cứu sinh, an toàn kỹ thuật tàu thuyền chưa được coi trọng; các hoạt động xâm phạm, tranh chấp ngư trường vẫn tiềm ẩn những nhân tố mất an toàn.


 
Nhiệm vụ và giải pháp
 
Để tiếp tục phát huy kết quả đạt được, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ PCTT&TKCN của Lực lượng Cảnh sát biển nói riêng, các lực lượng khác nói chung, đề nghị cần tập trung nghiên cứu một số nội dung, giải pháp sau:
 
Một là, Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về hoạt động ứng phó thiên tai, sự cố và TKCN. Đặc biệt chú trọng tuyên truyền về mức độ nguy hiểm do thiên tai, bão lũ gây ra; giáo dục, phổ biến kiến thức pháp luật, hướng dẫn các biện pháp phòng, tránh thiên tai, tai nạn cho các tổ chức, cá nhân nhằm nâng cao hơn nữa ý thức chấp hành pháp luật, tránh tư tưởng chủ quan, đơn giản, để hậu quả đáng tiếc xảy ra. Đối với cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc về hậu quả nặng nề mà thiên tai và các tai nạn gây ra; thấy rõ hơn vai trò nòng cốt, trách nhiệm to lớn, vinh quang của mình; coi đây là nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình” của toàn lực lượng. Trong giáo dục tuyên truyền, cần nâng cao nhận thức trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về công tác huấn luyện, sẵn sàng ứng phó thiên tai, sự cố và ý thức khắc phục khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ TKCN trong mọi tình huống.
 
Hai là, Quán triệt và thực hiện nghiêm Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 03/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn giai đoạn 2016-2020. Duy trì nghiêm chế độ trực ƯPTT&TKCN, nắm chắc tình hình; khi thiên tai, sự cố xảy ra cần phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, báo cáo kịp thời, chủ động tham mưu đề xuất các biện pháp xử lý; sẵn sàng triển khai lực lượng, phương tiện cơ động ứng phó, kịp thời, hiệu quả các tình huống, nhất là trên các địa bàn trọng điểm, vào những thời điểm quan trọng thường xảy ra thiên tai, sự cố; bảo đảm an toàn tuyệt đối về người, phương tiện và trang thiết bị. 
 
Ba là, Tập trung nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, nâng cao trình độ, kỹ năng thực hành cho bộ đội trong hoạt động ƯPTT&TKCN. Thực tế cho thấy, bão lũ ngày càng xảy ra với cường độ mạnh, diễn biến phức tạp trên phạm vi rộng nên việc cơ động lực lượng, phương tiện tham gia ứng phó gặp nhiều khó khăn, dẫn tới hiệu quả xử trí các tình huống còn hạn chế, nhất là ở địa bàn phức tạp. Vì vậy, trong công tác huấn luyện, cần xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung huấn luyện cho sát với thực tiễn theo phương châm “Thiết thực, cơ bản, vững chắc”; xác định thời gian, hình thức, phương pháp huấn luyện cho phù hợp với từng đối tượng nhằm phát huy cao nhất thế mạnh của từng đối tượng. Chú trọng nâng cao kỹ năng điều khiển, sử dụng thành thạo các phương tiện TKCN hiện đại và kỹ năng thực hành khắc phục sự cố tràn dầu, chống cháy nổ. Quan tâm đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong hiện đại hóa mô hình huấn luyện, kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện cơ bản với ứng dụng khoa học công nghệ thông tin. Tiếp tục phối hợp các bộ, ngành và cơ quan chức năng nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện nội dung giáo trình, tài liệu huấn luyện về TKCN bảo đảm tính chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
 
Bốn là, Nhận thức rõ vị trí, ý nghĩa to lớn của công tác phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ ƯPTT&TKCN nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp. Các lực lượng cần đẩy mạnh phối hợp trong công tác nắm, trao đổi thông tin, tình hình liên quan đến thiên tai, sự cố. Chủ động phối hợp chính quyền địa phương nơi đóng quân để nắm chắc tình hình các khu vực, địa bàn trọng yếu về thiên tai, sự cố; từ đó chuẩn bị phương án, lực lượng, phương tiện sẵn sàng ứng phó khi có tình huống theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao. Các bên kịp thời phối hợp tham mưu, đề xuất với Chính phủ, lãnh đạo Ủy ban Quốc gia Ứng phó thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chỉ đạo xử lý tình hình, sử dụng lực lượng, phương tiện ứng cứu nhanh chóng, hiệu quả, góp phần khắc phục giảm nhẹ thiên tai, sự cố đến mức thấp nhất. Cần đặc biệt coi trọng việc xây dựng các quy chế, kế hoạch, chương trình phối hợp, hành động một cách chặt chẽ, chính xác, khoa học ở tất cả các khâu, từ tiếp nhận thông tin, xác minh đến tổ chức sử dụng lực lượng, phương tiện; xây dựng các phương án thực hành phối hợp ƯPTT&TKCN trong từng tình huống tai nạn, sự cố cụ thể. Nhất là đối với các vụ việc xảy ra trong điều kiện mưa bão, lũ lụt, xa đất liền thì công tác phối hợp càng phải chặt chẽ, thống nhất, kịp thời, phát huy được tối đa sở trường, tính đặc thù của từng lực lượng.
 
Năm là, Thực hiện nghiêm túc tư tưởng chỉ đạo: “Phòng là chính, tích cực, chủ động, ứng cứu nhanh, có hiệu quả” và phương châm 4 tại chỗ: “Chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; vật tư, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ”, nhằm huy động nhanh chóng sức mạnh tổng hợp (con người, phương tiện, vật chất) ứng cứu kịp thời trong mọi tình huống, nhất là trong các tình huống khẩn cấp. Thực tế cho thấy, chi phí cho hoạt động đề phòng thiên tai, tai nạn rủi ro luôn thấp hơn chi phí khắc phục hậu quả trên biển; nếu chuẩn bị chu đáo mọi mặt, khi sự cố xảy ra, các đơn vị TKCN sẽ chủ động ứng phó nhanh chóng, kịp thời và giảm tối đa thiệt hại. Vì vậy, Nhà nước cần tiếp tục quan tâm đầu tư phát triển lực lượng cùng các trang thiết bị hiện đại, nhất là phương tiện chuyên dụng, làm cơ sở hình thành các trung tâm cứu hộ, cứu nạn mạnh trên từng khu vực. Các đơn vị cần chú trọng thực hiện tốt chế độ bảo quản, sửa chữa, giữ gìn trang bị, phương tiện, cơ sở vật chất, tài sản; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và duy trì khả năng SSCĐ, TKCN. Theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, nắm và dự báo chính xác tình hình thiên tai, bão lụt; đồng thời, thực hiện nghiêm túc các chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực chiến, trực SSCĐ, CHCN, trực thông tin và trực canh, canh gác 24/24h. 
 
Sáu là, Tăng cường hợp tác quốc tế trên lĩnh vực TKCN nhằm tranh thủ sự giúp đỡ cả về vật chất, trang bị cũng như kinh nghiệm tổ chức chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các nước. Trong đó, đẩy mạnh hợp tác về dự báo, cảnh báo, sử dụng trang thiết bị TKCN; tích cực hoàn thiện cơ chế hợp tác với quân đội các nước ASEAN về hỗ trợ nhân đạo, giảm nhẹ thiên tai và TKCN; đồng thời mở rộng ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác, ý định thư, thiết lập kênh thông tin cứu trợ khẩn cấp, đường dây nóng phối hợp trong hoạt động TKCN với các lực lượng chuyên trách Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước ASEAN để thường xuyên trao đổi, chia sẻ thông tin, tình hình tai nạn, sự cố của tàu thuyền và sẵn sàng sử dụng lực lượng, phương tiện triển khai hỗ trợ trong hoạt động ƯPTT&TKCN trên biển khi có yêu cầu. Ngoài ra, các bên cần tăng cường tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế về chương trình, nội dung huấn luyện, đào tạo cán bộ, trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm quản lý phòng ngừa, giảm nhẹ thiên tai, sự cố và hỗ trợ các trang thiết bị ứng phó, cảnh báo thiên tai, TKCN. Tích cực tham gia các đợt diễn tập, tập huấn về TKCN trong khu vực để tăng cường giao lưu, học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ tổ chức, chỉ huy và ứng phó với các tình huống.
 

Cảnh sát biển Việt Nam luôn xác định là lực lượng xung kích của Đảng, Nhà nước và Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ ƯPTT&TKCN trên biển nhằm góp phần tạo nên môi trường biển Việt Nam an toàn hơn, tin cậy hơn; thúc đẩy việc đầu tư, khai thác, bảo tồn nguồn lợi thủy sản và phát triển kinh tế biển trong thời kỳ mới, đồng thời thực hiện tốt nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc./. 

 

* Nguyên Tư lệnh Cảnh sát biển

GỬI Ý KIẾN